Kết quả 1 đến 1 của 1

Chủ đề: Những bài Thi Đức Giáo Chủ PGHH Viết và Đáp hoạ trong các năm 1944 đến năm 1947.

  1. #1

    Những bài Thi Đức Giáo Chủ PGHH Viết và Đáp hoạ trong các năm 1944 đến năm 1947.

    THI VĂN GIÁO LÝ

    Những bài sáng-tác năm Giáp-Thân (1944)

    CHO CÔ KÝ GIỎI Ở BẠC LIÊU
    Rày đã tu thân lánh bụi hồng,
    Dạ đừng suy nghĩ chuyện minh-mông.
    Để tâm yên tĩnh tầm chơn-lý,
    Phổ cứu nhơn-sanh khắp đại-đồng.


    ***
    Cô hai cô đã đi về,
    Mà sao tâm não nhiều bề ư tư.
    Làm sao gỡ mối sầu tư,
    Cho Thầy cho bạn cũng như cho mình?,
    Viết cho cô diệu ít hàng,
    Chuối già ăn hết rõ ràng mười hai.
    Nội nhà ngó thấy bằng nay,
    Từ đây sắp đến không ai dám mời.
    Tưởng ăn vài trái đố chơi,
    Ai dè bao-tử là nơi kho tàng.
    Sàigòn, năm 1944


    ẠC-NÚC
    Ạc-Núc từ khi đến đất nầy,
    Giết đà vô số kẻ thù Tây.
    Làm cho chí-sĩ nhà Nam-Việt,
    Chẳng đội trời chung với lũ mày.


    ĐỜ-CU
    Người Pháp bây giờ mới phục hưng,
    Trẻ già múa nhảy tửng-từng-tưng.
    Đờ-cu hội hiệp lăng-xăng xộn,
    Đứa biểu đầu đi đứa biểu đừng
    Sàigòn, năm 1944


    THI VĂN GIÁO LÝ
    Những bài sáng-tác năm Giáp-Thân (1945)

    MUỐN LÁNH PHỒN-HOA

    Muốn lánh phồn-hoa, lánh thị-thành,
    Tìm nơi non thẩm ngõ mai danh.
    Đợi cơ thiên-địa xây vần đến,
    Chờ cuộc phong-lôi đổi vận lành.
    Sớm hứng sương trong cùng vũ-trụ,
    Chiều mong gió mát với trời thanh.
    Xa nơi đa sự điều cao hạ,
    Muốn lánh phồn-hoa lánh thị-thành.
    Sàigòn, năm 1944
    Những bài sáng-tác năm Ất-Dậu (1945)
    NĂM ẤT-DẬU (1945)

    HUẤN-LỊNH

    Hỡi tất cả thiện-nam tín-nữ !
    Ngày mà chúng ta chịu khổ dưới gót giày của người Pháp và bọn quan lại hung tàn đã vừa qua. Kể từ nay tôn-giáo của chúng ta sẽ được tự-do truyền-bá. Vậy tôi nhân cơ-hội nầy tỏ cho các người được hiểu rằng:
    Đạo phận là đạo từ-bi bác-ái, dĩ đức háo sanh khoan hồng đại độ; tuy tình thế đổi thay chớ tấm lòng nhơn chẳng đổi.
    Vậy hãy coi toàn dân cũng như anh em một nhà, mong họ liên-kết với chúng ta để kiến-thiết lại quê-hương cùng nền Đạo nghĩa. Những kẻ bạo-tàn từ trước đến giờ, nay đã ăn-năn giác-ngộ thì hãy dĩ đức nhiêu dung tội trạng của họ, để sau nầy quốc-gia định-đoạn, còn mình chỉ khuyên họ trở lại đường lành, chớ chẳng nên làm điều gì thái quá mà động đến từ tâm của chư Phật.
    Mong các người hãy tuân theo huấn-lịnh nầy.
    Sàigòn, ngày 2 tháng 2 Ất-Dậu (1945)


    HỠI ĐỒNG-BÀO VIỆT-NAM !

    Nước nhà đã tuyên-bố độc-lập. Kẻ thù giết cha ông của chúng ta hầu hết đã bị giam cầm. Giờ đây, bổn-phận của mỗi người Việt-Nam cần phải làm thế nào cho sự dộc-lập hoàn-toàn của nước nhà chóng thực-hiện.
    Vậy tôi xin khuyên tất cả đồng-bào muốn tỏ ra xứng đáng với một người dân một nước tự-do thì chúng ta hãy nên đoàn-kết chặt-chẽ cùng nhau, hãy quên hết những mối thù hềm ganh-ghét, đừng bày ra cái họa nồi da xáo thịt khiến cho ngoại chơn khinh-bỉ một dân-tộc như dân-tộc Việt-Nam ta đã có nhiều tấm lòng nhân-hậu và những trang lịch-sử vẻ-vang, Còn bọn sâu dân mọt nước để sau nầy do Tòa-án quốc-gia định-đoạt, hiện giờ hãy rán tuân theo kỷ-luật của nhà binh.
    Lo trả thù riêng, đốt phá nhà cửa, hoặc trộm cướp sát-nhân, làm rối trật-tự, có hại cho ssự kiến-thiết quốc-gia.
    Kẻ yêu nước chẳng nên làm.
    Những người lính Việt-Nam trong quân-đội Pháp thoát ngũ hãy ra nhà binh Nhựt ghi tên, sẽ vô tội. Những lính cảnh-sát hãy đem khí-giới ra nộp và hiệp-tác với nhà đương cuộc để giữ an-ninh. Những kẻ trộm cướp có khí-giới hãy đem khí-giới nộp và thú tội sẽ được tha-thứ.
    Bình-tĩnh hiệp-tác chặt-chẽ với nhà đương cuộc, giữ sự an-ninh cho dân-chúng, có lợi cho sự kiến-thiết quốc-gia.
    Kẻ yêu nước nên làm.
    Nhân danh cho VIỆT-NAM ĐỘC-LẬP
    VẬN-ĐỘNG HỘI kiêm CỐ-VẤN DANH-DỰ
    VIỆT-NAM ÁI-QUỐC
    ĐẢNG
    Ký tên: HÒA-HẢO
    Sàigòn, tháng 2 Ất-Dậu (1945)


    LỜI RIÊNG CHO BỔN-ĐẠO

    Tôi ở Sàigòn khi cuộc đảo chánh xảy ra, vẫn đoán biết sẽ có vài chuyện chẳng hay trong quần-chúng, lập tức gởi thơ về khuyên giải mọi người, nhưng vì đường giao-thông bất-tiện mà thơ ấy đến rất chậm trễ, tôi lấy làm chẳng vui mà thấy một vài người trong Đạo và ngoài đời nhận lấy cái danh-từ của tôi mà làm một ít cử-chỉ trả thù không có xứng đáng với tấm lòng đạo-đức từ-bi; trước kia chúng nó hà-khắc ta, chúng nó đành; ngày nay ta hà-khắc lại, sao đành. Vì lòng chúng nó đầy sự hung-tàn, còn lòng ta lại đầy nhân-ái!
    Nên kể từ nay kẻ nào trong Đạo còn làm điều gì không có mạng lịnh sẽ bị loại ra khỏi Đạo và giao nhà dương-cuộc xử một cách gắt-gao.

    Ký tên: HÒA-HẢO
    Sàigon, tháng 2 Ất-Dậu (1945)

    HIỆU-TRIỆU

    Hỡi đồng-bào Việt-Nam!
    Vì một cái chánh-sách sai lầm của tiền-nhân ta mà Đế-Quốc Pháp có cơ-hội tốt chiếm-đoạt lãnh-thổ nước Việt-Nam. Gần ngót trăm năm nay, đồng bào ta trải biết bao cay đắng; lớp kẻ thù giày đạp, lớp quan lại tham-ô, vì thế nên người dân Việt-Nam gánh vác biết bao sưu-thuế nặng-nề. Kẻ thù đã lợi-dụng chánh-sách ngu dân để nhồi sọ quần-chúng, gây mầm chia rẽ Bắc, Nam, Trung, phá rối sự đoàn-kết, hầu mong cho cuộc đô-hộ được vĩnh-viễn trên giải non sông đất nước mà Tổ-Tiên ta phải phí biết bao máu đào mới gầy dựng được.
    Vả lại từ trước cho đến nay các bực anh-hùng, các nhà chí-sĩ khắp ba kỳ đã bao phen vùng-vẫy chống lại quân thù mong gầy dựng lại nền Đôc-Lập cho quê hương đất Việt.
    Nhưng than-ôi! Chỉ vì thiếu khí-giới tối-tân, chỉ vì sơ đường luyện tập mà giọt máu anh-hùng đành hòa với bao nhiêu giọt lệ, khóc phút sa cơ, để lại cho người đồng thời và cho đoàn hậu-thế muôn vàn tiếc thương ân-hận.
    Cách bốn năm nay, Đế-quốc Pháp, Đế-quốc Pháp đã tan tành gẫy đổ; địa vị người Tây cũng bị suy-lạc rất nhiều trên bán đảo Đông-Dương. Kế đến quân-đội Nhựt tràn sang, bọn cầm quyền Pháp ở xứ ta muốn duy trì quyền chủ-trị của họ bèn lợi-dụng tất cả điều-kiện kinh-tế, để cung-cấp các sự nhu-cầu cho quân-đội Nhựt hầu giữ vững cuộc bang-giao. Đàng khác, họ gia-tăng sự áp-bức, làm cho dân-chúng ta phải điêu-linh trong vòng khổ-sở, hầu làm cho chugn ta mất cả năng-lực, cùng tinh-thần tranh-đấu, mong kéo dài ngày tháng chờ cơ hội thuận-tiện để vẫy-vùng.
    Đến ngày hôm nay, giai-đoạn tranh-đấu đã đến thời-kỳ quyết-liệt, cho nên lòng hân-hoan và mối hy-vọng của kẻ thù đã bộc-lộ rất rõ-ràng. Vì vậy tình bang-giao giữa chúng nó với Chánh-phủ Nhựt-bổn chẳng còn được ổn-thỏa nữa.
    Đó là lý-do để cho quân-đội Nhựt giải quyết vần-đề Đông-Dương và rạng ngày 26 tháng giêng năm Ất-Dậu ta (nhằm ngày 10 Mars 1945 theo dương-lịch). bộ máy cai-trị của chúng nó bị hoàn-toàn gãy đổ.
    Hỡi đồng-bào Việt-nam!
    Chúng ta đã bước và đang bước đến một khúc nghiêm-trọng trên lịch sử. Giờ đây ta đã có thêm nhiều đặc-quyền lo-lắng đến cái giang-san gấm-vóc của Tổ-Tiên ta di-truyền lại.
    Vận-động cuộc độc-lập!
    Vận-động cuộc độc-lập!
    Phải! Toàn-quốc phải liên-hiệp vận-động cho cuộc Độc-Lập. Đấy là cái chủ-trương duy nhất của Việt-Nam Độc-Lập Vận-Động-Hội.
    "Việt-Nam Hoàn-Toàn Tự-Do, Độc-Lập".
    Đấy là cái khẩu-hiệu duy-nhất của người Việt-Nam.
    Từ khi Quốc gia bị khuynh-đảo đến nay, chúng ta chỉ hợp từng đoàn-thể nhỏ hoặc độc thân tranh-đấu và phải bao phen thất bại một cách đắng cay chỉ vì thiếu tinh-thần đoàn-kết, thiếu sức bền-bỉ dẻo-dai để chống lại kẻ xâm-lăng vô cùng tàn-bạo. Thời giờ nầy ta đã học-hỏi được nhiều rồi, ta đã thâu thập kinh-nghiệm khá hơn rồi; vậy thì ta nên đồng nhận chân ý-thức như nhau, nắm tay nhau quả-quyết mạnh dạn tiến bước trên con đường tranh-đấu.
    Hỡi các bạn trí-thúc Việt-Nam!
    -Các bạn có bị cái thứ văn-minh cặn-bả cám-dỗ chăng?
    -Các bạn có quên tinh-thần quốc-gia hùng-dũng của Việt-Nam chăng?
    -Không! Không! Chúng tôi chắc hẳn rằng không vậy.
    Các bạn cũng biết cái cặn-bã của nền văn-minh Pháp nhồi nắn rất nhiều đồng-bào ta trờ thành những bộ máy của bọn xâm-lăng. Các bạn đã ôn-nhuần những trang lịch-sử vẻ-vang mà từ ngàn xưa đến giờ, tiền nhân ta viết ra bằng tâm-cơ và bằng huyết-hãn, vẫn còn đầm-đìa trên mặt giấy. Vậy ngày nay, các bạn nên lợi-dụng thời-cơ thuận tiện để đem tất cả trí, năng, đức, hạnh, tham-gia vào Hội, lãnh-đạo nhân-dân hầu huấn-luyện cho nhau cái tinh-thần quốc-gia kiên-cố.
    Hỡi các bạn thanh-niên!
    Trong ba năm nay, theo mạng lịnh của người Tây, có rất nhiều bạn nhờ sự tháo-luyện, nên thân-thể được cường-tráng. Tuy vậy mà thou hỏi quân thù có thật lòng thương giống-nòi dân Việt nầy chăng?
    Decoux, Ducouroy có thật lòng thương yêu quí mến các bạn chăng? Có khi nào kẻ dị-chủng ấy đã chiếm-đoạt cái di-sản quí báu vô cùng vô tận của Tổ-Tiên ta di-truyền lại mà thương bạn mến bạn. Ấy chỉ vì chúng nó lợi-dụng bạn, luyện-tập bạn phòng khi hữu sự thì đem bạn làm mồi cho gươm súng hầu bảo-vệ lợi-quyền tư riêng của chúng.
    Nhưng rủi thay cho quân-thù, may thay cho lương dân Đại-Việt! Bọn nó chưa đủ ngày giờ thực-hành ý-định liền bị sanh cầm. Ngày nay, thay vì phải bắt buộc phụng-sự cho những kẻ đã sát-hại tiền-nhân ta, chiếm-đoạt lãnh-thổ ta, giành-giựt lợi-quyền ta, đàn-áp đồng chủng ta, các bạn hãy để tinh-thần tráng-kiện ấy vùa giúp vào công cuộc kiến-thiết nền Độc-Lập cho giang-san đất Việt.
    Hỡi các bạn Thanh-Niên! Các bạn nên tham-gia vào V.N.Đ.L.V.Đ.H. để đạt tới mục đích.
    Hỡi các cụ đồ nho! Hỡi các nhà sư!
    Các cụ Đồ Nho! Từ trước đến nay, luôn luôn các cụ vẫn hoài bão một nhiệt-vọng cho sự Độc-Lập của nước Việt-Nam, luôn luôn các cụ vẫn nuôi-nấng một tinh-thần Quốc-gia càng ngày càng mạnh-mẻ. Cái ngày mà các cụ mong-mõi, thiết-tha đã đến và ngày giời nầy các cụ rất khoan-khoái được thấy cái nguồn sanh-lực của nước Việt-Nam tái phát. Bao nhiêu tiết-tháo của thời xưa vẫn còn in sâu vào tâm não, bao nhiêu thành-tích vẻ-vang hùng-tráng của thời xưa đã chép ra mà nét chữ vẫn chưa mờ, còn lưu lại nơi trí óc các cụ những kỷ-niệm liệt-oanh rực-rỡ.
    Hỡi các cụ đồ nho! Hãy tham-gia vào phong-trào mới của nước nhà để khích-lệ nhân-tâm.
    Các bực Tăng-Sư, Thiền-Đức! Các cụ có nhớ chăng? Trên lịch-sử Việt-Nam thời xưa nhà Đại-Đức "Khuông-Việt" dầu khoác áo cà-sa, rời miền tục lụy, thế mà khi Quốc-gia hữu sự cùng ra tay gánh vác non sông.
    Từ khi người Pháp qua chiếm đất ta, bề ngoài gọi rằng cho ta tự-do tính-ngưỡng, nhưng bên trong dùng đủ mọi cách âm thầm chia rẽ và phá hoại cho tín-đồ nhà Phật không có sức đoàn-kết chấn hưng hầu bài-trừ cái lưu tệ di-đoan mê-tín.
    Đã vậy lại không có cơ-quan tuyên-truyền thống nhứt, cũng chẳng có trường chung đào luyện tăng-sư. Các cụ nên biết: hễ nước mất thì cơ-sở của Đạo phải bị lấp vùi; nước còn nền Đạo được phát khai rực-rỡ.
    Chúng tôi ước-mong các cụ noi gương đức Đại-Sư "Khuông-Việt" tự mình gia-nhập vào V.N.Đ.L.V.Đ.H. để làm gương, hay là để khuyến-khích các môn nhơn đệ-tửmau tham-gia vào phong-trào mới hầu chấn-chỉnh Quốc-gia ta. Khi nào nước nhà được cường thạnh, đạo Phật mới đặng khuếch-trương tự-do hầu gieo rắc tư-tưởng Thiện-Hòa và tinh-thần Từ-Bi, Bác-Ái khắp bàng-nhân bá-tánh.
    Hỡi các nhà Thương-mãi!
    Nông-gia! Thợ thuyền!
    Dưới sự kiềm chế của bọn xâm-lăng, nền thương-mãi quốc-gia bị đắm chìm kiệt-quệ, cơ hồ bị tay người ngoại quốc chiếm hẳn. Vì thế dưới sự chi-phối của bọn Đế-quốc Pháp, các nền kinh-tế, thương-mãi của người Nam không có cơ ngóc dầu dậy nổi.
    Các nền tiểu-công-nghệ, thủ-công-nghệ bị uy-hiếp nặng-nề cho đến đổi những nhà tiểu tư bản đều bị vô-sản hóa, lâm vào một tình-trạng vô cùng lầm than khổ não.
    Thương-gia Việt-Nam đành bó tay không phương giải-cứu. Muốn cho nền thương-mãi đặng phát-triển, thương-gia đặng thạnh-vượng, phi trừ sự "Độc-Lập" của nước nhà ra chẳng có cái gì có thể vãn cứu nổi.
    Các nông-gia bị cái áp-lực bất công của bọn thực-dân người Pháp và những kẻ quan-lại kiêm địa-chủ hiếp bức đủ mọi phương-diện, đều bị bóc-lột rất quá đáng. Nông-nghiệp là nguồn gốc kinh-tế của xứ-mình; nhưng vì muốn làm cho quân-đội Nhựt-Bổn thiếu kém đồ ăn và lấy cớ cung-cấp cho quân-đội Nhựt má người Pháp, ngót mấy năm nay, thi-hành chánh-sách hết sức độc-ác, tịch thâu hay mua rẻ nông-sản, kiểm-trai hóa-vật bày ra nông-phốt hợp tác lủng-đoạn lợi quyền, làm cho nông-nghiệp phải chịu thiệt-thòi rời-rã, khọng còn sản-xuất nhu xưa, kẻ làm ruộng vì vậy mà nghèo hèn đói rách. Bọn cầm quyền Pháp chẳng có giúp cho kỷ-thuật canh-cải được điều gì tốt đẹp cả, và chỉ khai-thác ít con kinh cho chiếu lệ, chớ 80 năm nay nghề nông ta vẫn còn nằm trong vòng ấu-trỉ phôi-thai với những khí-cụ của ông bà ta để lại. Họ chẵng có đem lại thứ máy-móc nào giúp cho nông-phu cũng không khi nào được thư-thái, cho đến muối là một món ăn mà Đông-Dương sản-xuất rất nhiều, nhưng vì người Pháp mà mấy năm nay trở nên thiếu-thốn chẳng đủ cung-cấp cho nhân-dân.
    Nền kỹ-nghệ trong xứ chẳng những không được khuyến-khích giúp đỡ mà lại còn bị cấm ngăn gián-tiếp khiến cho sự nhu-cầu của dân-chúng thiếu-thốn mọi bề, từ một cây kim may cho đến một cơ-khí tinh-xảo. Tóm lại tất cả các nhà kinh-tế, kỷ-nghệ, thương-mãi nông-nghiệp, tất cả các nguồn-lợi thiên-nhiên hay nhân tạo, tất cả các nguyên-liệu cho sự sống còn của xứ sở bị người pháp hoặc chiếm đoạt, hoặc tàn-phá làm cho nước nhà không còn là một nơi phì-nhiêu phong-phú nữa.
    Thợ-thuyền nhơn-công cũng ở dưới sự bạc-đãi, bức bách như nông dân; họ sống một cuộc đời luôn luôn thiếu kém và vẫn phải rụt-rè khép-nép với bọn chủ xưởng người Tây, vẻ mặt đầy hung-ác.
    Nhiều khi lắm người nhân công bị hành-hà tàn-nhẫn, giết chết biệt thây, hoặc bị sốt rét rút hết máu-me nơi cánh rừng cao-su bát-ngát, hoặc chết dưới những hầm mỏ âm-u mà nào ai có mở cuộc điều-tra, nào ai dám mở lời kêu ca thống trách và pháp-luật vẫn bỏ mặc tình, chẳng một điều gì chở-che bảo-bọc, ấy cũng tại nguyên-nhân nào? Nếu chẳng phải tại nước mất nhà tan, nen đdám người vong-quốc ấy phải ngậm-ngùi với biết bao điều ân-hận.
    Hỡi các thương-gia, nông-gia, thợ-thuyền! Cố gắng lên! Hùng mạnh lên! Và liên-kết cổ động tranh-đấu cho nền độc-lập hoàn-toàn của Quốc-gia hầu vãn-cứ đồng-bào mình cùng quyền-lợi mình.
    VIỆT-NAM ĐỘC-LẬP VẬN-ĐỘNG HỘI
    thành-lập chẳng phải chỉ để lo riêng cho cái quyền-lợi của một người hay một hạng người mà là cho chung cả mấy mươi triệu người dân Việt.
    Vậy thì mỗi người công-dân Việt-Nam đều phải nghĩ đến xứ-sở mình, đến tương-lai đất nước mình, đến sự sống còn của dân-tộc mình; vì mặc dầu đã bị triệt-hạ trên giải đất Đông-Dương, Đế-quốc Pháp bên kia trời cũng vẫn còn hoài-bảo cái mộng-tưởng khôi phục lại quyền chủ trị; vậy thì đồng-bào hãy cố gắng lên!
    Chúng tôi mong rằng các bực lão thành, các hàng trí-thức, các thanh-niên nam-nữ, các đồng-bào vì đất nước chung, vì mục-đích cung, hợp sức cùng nhau để đạt cái nhiệt-vọng tối-đại tối cao thì tiền-nhân ta mới đành ngậm cười nơi chín suối.
    VIỆT-NAM ĐỘC-LẬP VẬN-ĐỘNG HỘI
    "Ủng hộ triệt-để các dảng Ái-quốc chân chính"
    "Bài-trừ triệt-để bọn mọt nước sâu dân".

    Saigon, tháng 3dl.1945


    THI VĂN GIÁO LÝ
    Những bài sáng-tác năm Bính-Tuất (1946)

    TIẾNG SÚNG BÊN LẦU
    Nước non tan vỡ bởi vì đâu?
    Riêng một ta mang nặng khối sầu.
    Lòng những hiến thân mưu độc-lập,
    Nào hay tai họa áp bên lầu.
    Bên lầu tiếng súng nổ vang tai,
    Trời đất phụ chi kẻ trí tài.
    Mưu quốc hóa ra người phản quốc,
    Ngàn thu mối hận dễ nào phai.
    Từ ấy lao mình vượt khổn nguy,
    Băng rừng lội suối giả man-di.
    Ngày mong ải Bắc oan nầy giải,
    Đem sức ra nâng lá quốc-kỳ.
    Nhưng khổ càng mong càng vắng bặt,
    Trời Nam tràn ngập lũ Tây-di.
    Biết bao đồng chí phơi xương máu,
    Thức-giả nhìn nhau hỏi tội gì?
    Vì tội không đành phụ nước non,
    Phô bày tiết-tháo tấm lòng son.
    Ngăn phường sâu mọt lừa dân-chúng,
    Chẳng nệ thân-danh nổi mất còn.
    Nếu mất thôi dành xong món nợ,
    Nay còn há dễ ngó lơ sao?
    Dọc-ngang chí cả dù lao-khổ,
    Thất bại đâu làm dạ núng-nao.
    Thât bại đâu làm dạ núng-nao,
    Non sông bao phủ khí anh-hào.
    Phen nầy cũng quyết đền ơn nước,
    Máu giặc nguyện đem nhuộm chiến-bào.

    Miền đông, năm 1946
    (Trong khi Đức Thầy ẩn lánh Việt-Minh và người Pháp vừa mới tái chiếm Nam-Việt)

    ĐỔNG
    ĐẢNG TƯƠNG TÀN
    Người đồng đảng giết người đồng đảng,
    Ai Việt-minh, Cộng-Sản là ai?
    Đương cơn quyền lợi đắm say,
    Anh hùng chí-sĩ râu mày thế ư?,
    Đường muôn dặm lời thư một khúc,
    Giờ giặc đà tá-túc nhà ta.
    Ai ra nưng đở san-hà,
    Ai ra cứu vớt nước nhà lâm nguy?
    Phát-xít sẽ tầm truy tàn-sát,
    Không đảng nào mà thoát tai-ương.
    Nghĩ càng bực-tức đau-thương,
    Giết nhau để lợi cho phường xâm-lăng.
    Miền đông, năm 1946

    CHÍ NAM NHI
    Nam-nhi mang chí cả,
    Bao tấm lòng sắt đá.
    Thương giống-nòi dẹp bã vinh-huê,
    Lướt đạn bôm giữ vững một lời thề:
    Tàn-sát hết quân thù xâm-lược,
    Tranh độc-lập tự-do cho nước,
    Cho giống nòi rạng-rỡ trước năm châu.
    Khí thiêng-liêng sông núi nhiệm-mầu,
    Un-đúc giống anh-hùng vang bốn bể.
    Gương sáng ấy soi chung hậu thế,
    Anh em ôi! theo dõi gót cùng ta.
    Rra tay quét sạch san-hà,
    Ra tay bồi-đấp nước ta hùng-cường.

    Miền-Đông, ngày 10 tháng giêng Bính-Tuất (1946)

    RIÊNG TÔI
    Rứt áo cà-sa khoác chiến-bào,
    Hiềm vì nghịch cảnh quá thương-đau.
    Bên rừng tạm gởi thân cô quạnh,
    Nhìn thấy non sông suối lệ trào.
    Nhìn thấy non sông suối lệ trào,
    Lòng nguyền giữ vững chí thanh-cao.
    Ai người mãi quốc cầu vinh nhỉ,
    Hậu thế muôn thu xét thử nào?
    Hậu thế muôn thu xét thử nào?
    Lòng nầy yêu nước biết là bao?
    Vì ai gieo-rắc điều hồ-mị,
    Đành ngó non sông nhuộm máu đào.
    Đành ngó non sông nhuộm máu đào,
    Thời-cơ độc nhứt cứu đồng bào.
    Muôn ngàn chiến-sĩ chờ ra trận,
    Bỗng vướng gông cùm chốn ngục-lao.

    Miền đông, năm 1946

    TIẾNG CHUÔNG CẢNH-TỈNH
    Hãy tỉnh giấc hỡi muôn ngàn chiến-sĩ,
    Mở lòng ra thương nghĩ sanh-linh.
    Đồng-bào ai nở dứt tình,
    Mà đem chém giết để mình an vui.
    Dù lúc trước nếm mùi cay đắng,
    Kẻ độc-tài đem tặng cho ta.
    Sau nầy tòa-án nước nhà,
    Sẽ đem kẻ ấy mà gia tội hình.
    Lúc bâu giờ muôn binh xâm-lược,
    Đang đạp vày non nước Việt-Nam.
    Thù riêng muôn vạn cho cam,
    Cũng nên gát bỏ để làm nghĩa công.
    Khắp Bắc Nam Lạc-Hồng một giống,
    Tha thứ nhau để sống cùng nhau.
    Quí nhau từng giọt máu đào,
    Để đem máu ấy tưới vào địch quân.
    Đấng anh-hùng vang lừng bốn bể,
    Các sắc dân đều nể đều vì.
    Đồng-bào nỡ giết nhau chi,
    Bạng duật trương trì lợi lũ ngư-ông.
    Hỡi những kẻ có lòng yêu nước ,
    Nghe lời khuyên tỉnh được giấc mê.
    Anh em lớn nhỏ quày về,
    Hiệp nhau một khối chớ hề phân ly.
    Đả-đảo bọn Nam-Kỳ nô-lệ,
    Kiếp cúi lòn thế-hệ qua rồi.
    Lời vàng kêu gọi khắp nơi,

    Anh em chiến-sĩ nhớ lời ta khuyên.
    (Viết vào lối tháng tại Miền-Đông năm 1946 để khuyên anh em tín-đồ Hòa-Hảo chấm dứt các cuộc xung-đột với Việt-Minh).

    QUYẾT RỨT CÀ-SA
    Thấy dân thấy nước nghĩ mà đau.
    Quyết rứt cà-sa khoác chiến-bào.
    Đuổi bọn-xâm-lăng, gìn đất nước,
    Ngọn cờ độc-lập phất-phơ cao.
    Ngọn cờ độc-lập phất-phơ cao,
    Nòi giồng Lạc-Hồng hiệp sức nhau.
    Tay sùng tay gươm xông trận địa,
    Dầu cho giặc mạnh há lòng nào.
    Dầu cho giặc mạnh há lòng nào.
    Nam-Việt ngàn xưa đúc khí hào.
    Lúc giặc xâm-lăng mưu thống-trị,
    Anh-hùng đâu sá cảnh gian-lao.
    Anh-hùng đâu sá cảnh gian-lao.
    Chiến-trận giao-phong rưới máu đào.
    Miễn đặng bảo tồn non nước cũ,
    Giữ an tánh-mạng cả đồng-bào.

    Miền đông, năm 1946

    TẶNG HỘI-ĐỒNG CỐ-VẤN NAM-KỲ
    Tám ông Cố-Vấn Hội-đồng,
    Phùng mang trợn mắt ra công bán nòi.
    Hô hào nghinh-tiếp quân voi,
    Về vày mộ tổ để vòi mề-đay.
    Thinh múa mỏ, Phát khoe tài,
    Nam-Kỳ hiến-pháp sắp bày mị dân.
    Nào là chấn-chỉnh (củng-cố) hương-lân,
    Để cho lũ chó làm sân săn mồi.
    Vụng-về thay, bọn Tây-bồi!
    Sắm tuồng vẽ mặt mà giồi phấn đen.
    Ngàn muôn cử chỉ đê-hèn,
    Cúi lòn, bưng bợ tập rèn công phu.
    Lòng mong dân nước dại ngu,
    Để đám nghị mù tự-tiện làm quan.
    Nào ngờ trong lúc dở-dang,
    Nghị Phát vắng số suối vàng vội đi.
    Nghị Thinh lụy nhỏ lâm-ly,
    Than rằng bạn nở bỏ đi giữa chừng!
    Họp bàn tính kế trùng hưng,
    Vợ ban đã nửa chừng xuân nhưng còn.
    Ra tay dìu-dắt bốn con,
    Suối vàng bạn hỏi lòng còn ghen không?
    Muôn dân như chửa vừa lòng,
    Ước sao cả lũ vào tròng Diêm-La.
    Từ nay trong nước Nam ta,
    Thề rằng chẳng chịu đẻ ra giống nầy.

    Miền đông, năm 1946

    NGHỊ THINH VỚI CAO ỦY D'ARGENLIEU
    NGHỊ THINH: Dạ dạ... Dám bẩm quan Cao-Ủy,
    Thậm chí nguy, thậm cấp chí nguy!
    Rối beng trận-tự Nam-Kỳ,
    Bạn tôi Nghị Phát mạng phi mất rồi.
    Còn bảy ông ngồi trơ mõ chó,
    Lòng những lo sóng gió bất kỳ.
    Nếu không phương pháp phòng nguy,
    Ức tình tôi sẽ điện đi hoàn-cầu.
    Cho thế-giới góp thâu tài-liệu,
    Rằng Việt-dân chẳng chịu phục tòng.
    Thế này cai-trị sao xong,
    Trả nước lại nó mới hòng ngũ yên.
    D'ARGENLIEU: Quan Cao-Ủy mặt liền sầm lại,
    Lũ dân gì kỳ quái lạ thường.
    Máy bay tàu chiến biểu-dương,
    Rõ-ràng Đại-pháp hùng-cường thế ni,
    Mà chúng vẫn khinh-khi sự chết,
    Chẳng lẽ tra giết hết trẻ già,
    Bằng không, muốn dứt can qua,
    Giao cho việc nước việc nhà nó toan.
    Mình làm khách bàng quan khi khỏe.
    Nước Việt-Nam son trẻ ra đời,
    Cọng-hòa đem lại khắp nơi,
    Muôn dân an lạc thảnh-thơi phú-cường.
    NGHỊ THINH: Nghị Thinh nghe bèn òa tiếng khóc:
    Thế còn công khó nhọc tôi đâu?
    D'ARGENLIEU: Mua cho ông một vé tầu,
    Ba-ri đến đó ngõ hầu dung thân.

    Miền đông, năm 1946

    TÌNH YÊU
    Ta có tình yêu rất đượm nồng,
    Yêu đời yêu lẫn cả non sông.
    Ti nh yêu chan-chứa trên hoàn-vũ,
    Không thể yêu riêng khách má hồng.
    Nếu khách má hồng muốn được yêu,
    Thì trong tâm chí hãy xoay chiều.
    Hướng về phụng-sự cho nhơn-loại,
    Sẽ gặp tình ta trong khối yêu.
    Ta đã đa mang một khối tình,
    Dường như thệ-hải với sơn-minh.
    Tình yêu mà chẳng riêng ai cả,

    Yêu khắp muôn loài lẫn chúng-sinh.
    Miền đông, năm 1946
    (Một thiếu-nữ ở Sàigòn thầm yêu Đức Thầy trong khi Ngài còn ẩn lánh V.M và Pháp: thấy vậy, Đức Thầy bèn viết ba bài thi trên dây để cảnh tỉnh cô ấy).

    LẤY CHỒNG CHỆT
    Lúc Đức Thầy đang ẩn lánh 1946, Ngài có gặp một cô gái Việt lấy chồng Ngô. tức cảnh, Ngài có làm bài thi sau đây (dùng biệt-hiệu Hoài-Việt):
    Cô ơi, nước Việt-Nam thiếu gì trai trẻ,
    Mà vội đi lấy lẽ "ba Tàu" ?!
    Của tiền quí báu là bao,
    Đem tuổi muôi tám so vào bốn mươi?
    Rồi muôi tánh biếng lười mê ngủ,
    Để ngày kia ủ-rủ đau thương.
    Khi ba Tàu xách gói hồi hương,
    Vàng bạc tóm, bỏ cô thơ-thẩn.
    Cô nhìn theo muôn vàn tiếc hận,
    Cô vì chàng mà bẩn tiết-trinh.
    Cô tủi thân, cô lại bất bình,
    Nhưng muộn quá, tuổi xuân không trở lại.
    Trông tương-lai cô đầy sợ hãi,
    Hoa úa tàn người lại rẽ khinh.
    Cô tiếc rằng phải tuổi còn xinh (xanh),
    Cô sẽ chọn người chồng Nam-Việt.
    Ở trong hàng thanh-niên, thanh-niết,
    Tuy nghèo hèn mà biết thỉ chung.
    Yêu-đương nhau đến phút cuối cùng,
    Vợ chồng ấy mới chân hạnh-phúc.
    Ta là khách phương xa tá-túc,
    Thấy sự đời vẽ khúc văn-chương.
    Thấy đời cô chìm-đắm trong gió sương.
    Than ít tiếng gọi hồn chủng-loại.
    Việt-Nam! người Việt-Nam mau trở lại!
    Yêu giống nòi có phải hơn không?
    Dầu sao cũng giống Lạc-Hồng!

    Miền đông, năm 1946

    TUYÊN-NGÔN của ĐẢNG VIỆT-NAM DÂN-CHỦ XÃ-HỘI


    Do Đức Huỳnh Thủ-Lãnh công-bố ngày 21-9-46 (Theo bổn của B.C.H. Liên Tỉnh Dân-Xã M.T.N.V.) 1947-1949

    Đảng VIỆT-NAM DÂN-CHỦ XÃ-HỘI (gọi tắt là Việt-Nam Dân-Xã Đảng) thành-lập ngày 21 tháng 9 năm 1946, do sự thỏa-thuận và đoàn-kết giữa nhiều đoàn-thể ái-quốc (khang-chiến, cần-lao tôn-giáo và chánh-trị).
    Việt-Nam Dân-Xã Đảng là một đảng quốc-gia tranh-thủ sự tự-chủ hoàn-toàn của dân-tộc, củng-cố nền độc-lập quốc-gia và cấu-tạo xã-hội Việt-Nam mới.
    Sở dĩ Đảng đặt vấn-đề độc-lập quốc-gia trước các vấn-đề khác là vì:
    1/ --Trên lập-trường quốc-tế, nước Việt-Nam có được độc-lập , dân-tộc Việt-Nam mới được sống bình-đẳng với dân-tộc khác; dân-tộc bình-đẳng nhau mới chủ-trương được dân-tộc hiệp-lực, mới kiến-thiết được hòa-bình xác-thực cho thế-giới.
    2/ --Dân-tộc Việt-Nam được tự-chủ và mạnh mới tránh khỏi sự chi-phối của đế-quốc chủ-nghĩa để thi-hành một cách có hiệu-quả những biện-pháp chánh-trị và kinh-tế, đem lại hạnh-phúc cho các tầng lớp dân-chúng.
    Việt-Nam Dân-Xã Đảng là một đảng dân-chủ, chủ-trương thiệt-thi triệt-để nguyên-tắc chánh-trị của chủ-nghĩa dân-chủ: "chủ-quyền ở nơi toàn-thể nhân-dân".
    Đã chủ-trương "Toàn dân chánh-trị" thế tất đảng chống độc-tài bất cứ hình-thức nào.
    Việt-Nam Dân-Xã Đảng là một đảng cách-mạng xã-hội, chủ-trương tổ-chức nền kinh-tế theo nguyên-tắc chủ-nghĩa xã-hội: không để giai-cấp mạnh cướp công-quả của giai-cấp yếu, làm cho mọi người đều được hưởng phúc-lợi cân-xứng với tài-năng và việc làm của mình; những người tàn-tật yếu-đuối thì được nuôi dưỡng đầy-đủ.
    Đặc điểm của Việt-Nam Dân-Xã Đảng là, trong giai-đoạn hiện tại, không chủ-trương giai-cấp đấu-tranh giữa dân-tộc Việt-Nam vì lẽ ở xã-hội Việt-Nam hiện thời , trên 80 năm bị-trị, chỉ có một giai-cấp bị "tư-bản thực-dân" bốc-lột.
    Muốn tránh khỏi giai-cấp tranh-đấu về sau, thì sự cấu-tạo "xã-hội Việt-Nam mới" phải căn-cứ nơi những yếu-tố không cho sanh-trưởng giai-cấp bốc-lột và chỉ trợ-trưởng một giai-cấp một, túc là giai-cấp sanh-sản.

    CHƯƠNG-TRÌNH của ĐẢNG VIỆT-NAM DÂN-CHỦ XÃ-HỘI
    Do Đức Huỳnh Thủ-lãnh công bố ngày 21-9-46 (Theo bổn của B.C.H. Liên Tỉnh Dân-Xã M.U.N.V.) 1947-1949

    I .- CHÁNH-TRỊ
    Đối ngoại:
    Căn cứ vào chánh-sách (1) của Liên-Hiệp-Quốc (O.N.U.) và sự bảo-vệ chung nền hòa-bình, cọng-tác với các dân-tộc khác trên lập-trường tự-do và bình-đẳng.
    Tranh-đấu giải-phóng dân-tộc, đem lại độc-lập cho nước nhà.
    Thừa-nhận quyền dân-tộc tự-quyết của các dân-tộc nhược-tiểu. Đoàn kết với các dân-tộc ấy để chống đế-quốc xâm-lăng.


    Đối nội:

    Nước Việt-Nam có một ba bộ Trung-Nam-Bắc gồm một.
    Củng-cố chánh-thể Dân-Chủ Cọng-Hòa bằng cách đảm-bảo tự-do dân-chủ cho toàn dân.
    Ủng hộ Chánh-Phú Trung-Ương về mặt tranh-thủ thống-nhứt và độc-lập.
    Liên-hiệp với các đảng-phái để chống họa thực-dân.
    Chủ-trương "toàn-dân chánh-trị"
    Chống độc-tài bất cứ hình thức nào.
    (1) có bản chép là: căn cứ vào hiến chương của Liên-Hiệp-Quốc (charte des Nations unies).


    II.- KINH-TẾ
    Nguyên-tắc chung:
    -Trọng quyền tư-hữu tài-sản đến một độ không có hại đến đời sống công-cộng.
    -Dự-bị: Một phần xí-nghiệp quốc-gia (Secteur de I'Etat),
    Một phần xí-nghiệp quốc-hữu-hóa (Secteur nationlisé).
    Một phần tự-do cho tư-nhân và ngoại-kiều (secteur libre pourr Viêtnamiens et Etrangers).
    -Thi-hành những biện-pháp không cho bốc-lột công-nhân.


    Nông-nghiệp:

    Di dân để mở đất hoang.
    Lập đồn-điền quốc-gia, lập-làng kiểu-mẫu theo chủ-nghĩa xã-hội đồn-điền.
    Mua lại đồn-điền bị tập-trung quá độ để bán lại cho nông-dân hoặc để cho quốc-gia.
    Lập bình-dân ngân-quỹ và lập hợp-tác-xã sản-xuất để giúp nông-dân mua dụng-cụ và máy-móc (cày, gặt, vận-tải...), hợp-tác-xã để tránh nạn trung-gian.
    Phổ-thông khoa-học để gia-tăng sản-xuất nông-nghiệp, chăn-nuôi, thủy-lợi, lâm-sản...


    Công-nghệ:

    Mở-mang khí-cụ cần-thiết cho sự khuếch-trương nền kinh-tế quốc-gia.
    Lần-lượt phát-triển kỷ-nghệ cần-yếu, bắt đầu từ kỷ-nghệ nhẹ.


    Thương-mãi :

    Lập hợp-tác-xã tiêu-thụ bán vận-dụng cần-thiết từ thành-thị, từ làug.

    Tài-chánh:
    Lập Ngân-hàng quốc-gia.

    III.- XÃ-HỘi


    Bài-trừ thuốc phiện, rượu mạnh, cờ-bạc, mãi-dâm, tham-ô.
    Thi-hành triệt-để luật xã-hội.
    Cải-thiện và nâng cao đời sống tinh-thần và vật-chất của dân cày và thầy thợ bằng cách mở thật nhiều cơ-quan y-tế, giáo-dục, cứu-tế, nhà bảo-sanh, ấu-trỉ viện, nhà dưỡng-lão, nhà-thương, trường-học, nhà hát-bóng... làm cho dân cày cũng hưởng được những ích-lợi của khoa-học như thầy thợ ở đô-thị.


    IV.- VĂN-HÓA


    Bài-trừ văn-hóa nô-lệ.
    Sơ-học, tiểu-học cưỡng-bách và vô-phí.
    Giáo-dục chuyên môn, tổ-chức du-học, cấp học-bổng.
    Lập cơ-quan điều-hướng nghề-nghiệp.


    V.- THANH-NIÊN
    Tổ-chức thanh-niên thành đoàn-thể và huấn-luyện cho thành người thích-ứng với thời-đại mới.
    Mở quán, trạm, nhà hội, sân vận-động cho thanh-niên.


    VI.- BINH-BỊ
    Thành-lập một đội binh phòng-vệ.
    Mở lớp dự bị quân-sự phòng-vệ từng làng trong một thời hạn ngắn.
    Mở trường đào-tạo sĩ-quan, gởi võ-quan cao cấp đi tập-sự ở ngoại-quốc.
    Mở lớp huấn-luyện đặc-biệt cho sĩ-quan và quân-sĩ của các đạo quân muốn gia-nhập đạo binh thường-trực quốc-gia.


    TẾ CHIẾN-SĨ TRẬN VONG Ở VƯỜN THƠM
    Trên linh-tọa hương trầm nghi-ngút,
    Tấc lòng thành cầu chúc vong linh.
    Sa-trường hỡi các sĩ-binh,
    Vườn Thơm tuyệt mạng hiến mình non sông.
    Thiệt chẳng hổ giống-dòng Nam-Việt,
    Tiưng nêu cao khi-tiết Lạc-Hồng.
    Đã mang lấy nợ non sông,
    Quyết lòng báo quốc tồn vong sá gì.
    Gương yêu nước đáng ghi đáng nhớ,
    Chí hy-sinh nhắc-nhở mai sau.
    Sống không hổ kiếp anh-hào,
    Không ham tiền bạc sang giàu cá-nhân.
    Thân chiến-sĩ vì dân vì nước,
    Vì tự do hạnh-phước đồng-bào.
    Bao nài nguy hiểm gian lao,
    Một năm kháng-chiến ra vào chông-gai,
    Bôm, đạn thét không phải tâm ý,
    Súng gươm rền nung chí hùng anh.
    Quyết đem xương máu hy-sanh,
    Hy-sanh cứu nước rạng danh muôn đời.
    Thù giặc Pháp làm người phải trả,
    Trừ tham quân bởi quá ngang-tàng.
    Nước mất đâu dễ ngồi an,
    Mượn gươm Lê, Lý dẹp tan quân thù.
    Ngày hôm ấy tàn thu sương đượm,
    Quân Pháp đem lực-lượng tấn-công.
    Máy bay, tàu thủy, súng đồng,
    Lục quân cơ-khí quyết lòng hại dân.
    Chúng gặp phải liên-quân anh-dũng.
    Hạ phi-cơ, tuốt súng, lấy bôm.
    Quanh tàu vây chặt mấy vòng,
    Cả kinh giặc Pháp phục tòng rút lui.
    Phân rủi-ro riêng xui mạng bạc,
    Khiến anh-hùng cởi hạc xa bay.
    Nước non đang thiếu anh-tài,
    Tử thần vội cướp đưa ngay chầu Trời.
    Hồn tử-sĩ nghe lời than tiếc,
    Trừ tham quân tận diệt xâm-lăng.
    Nam binh sát khí đằng đằng,
    Thề-nguyền thành lũy đạp bằng mới thôi.
    Kẻ chết đã yên rồi một kiếp,
    Người sống còn tái tiếp noi gương.
    Lòng thành thắp một tuần hương,
    Vái hồn liệt-sĩ bốn phương tựu về.
    Nơi làng vắng cam bề đơn giản,
    Lễ mon nầy trước án bày ra.
    Hiển-linh xin chứng gọi là...

    Quéo-Ba, ngày 1-10-46 (BínhTuất)

    CỤ PHẠM-THIỀU MỜI ĐỨC THẦY THAM-CHÁNH

    Mưa gió thâu canh mãi dập-dồn,
    Âm-u tràn ngập cả càn-khôn.
    Hỡi ai thức ngủ trong đêm ấy,
    Có thấu tai chăng tiếng quốc-hồn?
    Sao còn khoắc-khoải nhớ hiềm xưa?
    Trang sử chùi đi những vết nhơ.
    Gìn-giữ tim son không chút bợn,
    Mặc tòa dư-luận thấu hay chưa.
    Sao còn lãnh đạm với đồng bang,
    Toan trút cho ai gánh trị-an?
    Thảm kịch "tương tàn" chưa hết diễn,
    Long-Xuyên Châu-Đốc lụy muôn hàng.
    Sao còn ngần-ngại chẳng ra tay,
    Trước cảnh xâm-lăng cảnh đọa-dày?
    Ngọn lửa binh đao lan khắp đất,
    Phật Trời soi thấu cũng châu mày.
    Chẳng áo cà-sa, chẳng chiến-bào,
    Về đây tham-chánh mới là cao.
    Non sông chờ đợi người minh-triết,
    Chớ để danh thơm chỉ Võ-Hàu.
    TRƯỜNG-PHONG

    (biệt hiệu của cụ Phạm-Thiều)

    ĐỨC THẦY họa:
    Những nỗi đau thương mãi dập-dồn,
    Càng nghiều luân-lạc lại càng khôn.
    Lặng nhìn thế sự nào ai ngủ!
    Chờ dịp vung tay dậy quốc-hồn.
    Từ-bi đâu vướng mối hiềm xưa,
    Nhưng vẫn lọc-lừa bạn sạch nhơ.
    Nếu quả tri-âm tri-ngộ có,
    Thì là hiệp lực hiểu hay chưa?
    Nhìn sang Trung-quốc khách lân bang,
    Cứ cố xỏ ngầm sao trị an?
    Nếu thiệt hai bên đồng hiệp trí,
    Kẻ gây thảm kịch phải qui hàng.
    Lắm kẻ chực hờ đặng phỗng tay,
    Mà ao chánh-sách bắt dân dày.
    Vẫn còn áp-dụng vì phe đảng?
    Chẳng muốn xông ra sợ cháy mày!
    Thà ở trong quân mặc chiến-bào,
    Ngày qua sẽ biết thấp hay cao.
    Nào ai đem sánh mình minh-triết,
    Mà dám lăm-le mộng Võ-Hầu
    HOÀNH-ANH
    (biệt hiêu của Đ.T.)
    Miền-Đông, ngày 1 tháng 10-1946


    ĐỨC HUỲNH GIÁO-CHỦ TUYÊN-BỐ


    LỜI TÒA-SOẠN (Báo QUẦN-CHÚNG ngày 14-11-46)-- Ông Huỳnh-Phú-S...tức là Giáo-Chủ Phật-Giáo Hòa-Hảo, Người đã có một lịch-sử chánh-trị cận-đại ở Nam-Bộ, người ta đã nói vể Ông rất nhiều. Kế sau nầy các báo đều đăng tin rằng Ông có dự vào U.B.H.C.N.B..
    Nhớ lại đoạn đường đã qua, nhiều người phân-vân.
    Để trả lời chung, hôm nay ông Ông Huỳnh-Phú-S...nhờ chúng tôi đăng bài tuyên-bố để trả lời: "Vì sao tôi tham-chánh". Chúng tôi sẵn-sàng đưa ra trước dư-luận :
    Tháng tám năm 1946, Phát-xít Nhựt đầu hàng không điều-kiện. Tin ấy bay ra làm cho tất cả dân-chúng Việt-Nam từ nhà lãnh đạo cách-mạng cho đến đại-chúng cân-lao, mọi người đều nhận thấy một ánh sáng của quê hương chói dậy. Giờ thiêng-liêng của lịch-sử đã đến; sự hoạt-động bí-mật nhương chỗ cho sự hoạt-động công-khai.
    Tôi, một để tử trung-thành của đạo Phật, một chiến-sĩ trì chí của phong-tráo giải-phóng dân-tộc Việt-Nam sẳn-sàng cùng đoàn-thể mình cương-quyết đứng dậy đáp lại tiếng gọi của non sông, cương-quyết tranh-đấu để bảo-vệ quyền-lợi chung cho nòi giống.
    Tiếc vì một hoàn-cảnh đặc-biệt đau thương buộc tôi phải dung mình trong non cao rừng thẳm. Sự độc-đoán, sự ngờ-vực đã đưa đến chỗ chia-ly, mà kẻ thức-thời nhìn qua sự thật khộng khỏi ngậm-ngùi than-trách. Một năm trời biến-cố, dấu tang thương gieo khắp trời Nam, song cảnh cam-go ấy tôi muốn tìm phương cứu chữa, nhưng khốn thay, bị đứt mối liên-lạc với Trung-Ương và các đồng-chí, nên đàng nuốt hận và nhìn bọn xâm-lăng tung-hoành trong đất nước. Lúc ấy tất cả quần-chúng của tôi, Ban chỉ-huy cao cấp không còn. Ban chỉ-huy địa-phương tan rã, họ bơ-vơ như bầy chim lạc đàn không nơi nương dựa, mà còn phải trải qua những giờ phút hãi-hùng, rồi nén lòng chờ đợi cứu tinh, rồi tuyệt vọng. Khi quân giặc đến, không ai chỉ đạo cho họ tranh-đấu, nỗi lòng hoang-mang xui cho những phần-tử quá trung-thành mà nồng-nổi không dằn được khí phẫn-uất nên họ đi tới chỗ xung-độ vô ý-thức.
    Tháng 2 năm 1946, tôi vừa bắt được liên-lạc và hiểu rõ tình-trạng đau đớn trên thì hền dùng đủ biện-pháp làm cho cuộc xô-xát âm-thầm chấm-dứt. Hơn nửa, trên các mặt trận, cũng cố-gắng tìm cách ủng-hộ chiến sĩ về hai phương-diện vật-chất lẫn tinh-thần, đồng hời xếp đặt các chiến-sĩ mình vào một tồ-chức quân-sự, chen vai thích cánh với đồng-bào trong cuộc kháng-chiến.
    Hôm nay, nhận rõ cuộc tranh-đấu cho tổ-quốc còn dài và cần nhiều nỗ lực, hưởng-ứng với tiếng gọi đại đoàn-kết của Chánh-phủ Trung-Ương, tôi quyết-định tham-gia hành chánh với những mục-đích nầy:
    Để tỏ cho quốc-dân và chánh-phủ thấy rằng chúng tôi chủ-trương thống-nhứt lãnh-thổ và độc-lập quốc-gia.
    Để biểu-dương tinh-thần đoàn-kết của dân-tộc hầu mau đem thắng-lợi cuối cùng.
    Để tỏ cho các đảng phái thấy rằng chúng tôi không khi nào có những tham-vọng cao sang vương-bá hay vì hềm riêng mà hờ-hững với phận-sự cứu-quốc.
    Biểu-lộ tấm lòng thành-thật ấy, tôi chỉ nhận một nhiệm-vụ cần-thiết, hạp với hoàn-cảnh và năng-lực mình, cố-gắng giàn-xếp về hành-chánh và quân-sự để củng-cố và tăng-cường lực-lượng của quốc-gia.
    Đối với toàn thể tín-đồ Phật-Giáo, tôi vẫn không quên rằng tôi là một đệ-tử trung-thành của Đức Phật Thích-Ca, tôi tin chắc rằng giáo-lý giải-thoát chúng-sanh chẳng những được truyền-bá ở Thiền-lâm mà còn phải thực-hiện trên trường chánh-trị.
    Đối với các đồng-chí hiện đang cùng tôi đeo-đuổi một chương-trình Dân-Chủ Xã-Hội, tôi tuyên-bố luôn luôn sát cánh với họ để chung lo gầy-dựng một nước Việt-Nam công-bình và nhơn-đạo, một nước Việt-Nam tương-xướng với các nước Dân-chủ tiền-tiến trên hoàn-cầu.

    ÔNG HỒN-QUYÊN (Ở SÀIGÒN) VÀO CHIẾN-KHU PHỎNG-VẤN ĐỨC HUỲNH GIÁO-CHỦ
    Vấn.- Ông có thể cho chúng tôi biết về tổ-chức quân-sự và hành-chánh trong đoàn-thể của ông chăng?
    Đáp.- Tôi không thể nói cho ông rõ tất cả những chi-tiết của sự-tổ chức ấy. Nhưng về đại-cương tôi có thể nói rằng cách chừng 6 tháng nay, những chiến-sĩ trong hành ngũ cũa tôi, khi họ nghe tôi còn sống, họ bắt đầu tập họp lại thành những bộ-đội kháng-chiến ở khắp các tỉnh miền Tây. Tuy không trực-tiếp liên-lạc với Chánh-phủ Trung-Ương nhưng họ cũng lấy tên là Vệ-Quốc Đoàn để tỏ rằng lúc nào họ cũng theo sự hướng-đạo của Chánh-Phủ mà tranh-đấu. Từ nay về sau các bộ-đội ấy liên-lạc trực-tiếp với các khu-trưởng trong vùng của họ để nối hệ-thống thành đạo quân chánh-qui của nước Việt-Nam.
    Về hành-chánh chúng tôi không co tổ-chức nào riêng biệt. Chỉ có những tổ chức để ủng-hộ cuộc kháng-chiến trong các làng-mạc. Hiện thời chúng tôi đã ra chỉ-dụ cho các tổ-chức ấy phải xem xét chương-trình tổ-chức chung của Chánh-Phủ để sáp nhập vào các cơ-quan chánh-thức của Chánh-Phủ.
    Vấn.- Chúng tôi nghe nói hình như ở Hậu-Giang còn vài cuộc rắc-rối do tín-đồ ông gây ra. Có phải vậy không?
    Đáp.- Từ trước tới nay, tôi đã nghe rất nhiều lời phê bình của một số đồng-bào về những hành-động vô ý-thức của một nhóm tín-đồ tôi. Hôm nay nhơn-dịp gặp ông, tôi xin thanh-nhinh và đính-chánh về những lời đồn-đãi đó. Tôi quã quyết với ông rằng: Tất cả tính-đồ có học-thức và những người hiều biết được rõ-ràng một vài phần trong giáo-lý chơn-chánh của đạo Phật thì trong thời đã qua họ đã thiệt hành được lời dạy bảo của Đức Phật là lấy lòng nhơn hậu mà đối-đãi với sự thù-oán măc dầu trong đó họ bị đau khổ nhiêu.
    Còn riêng về những cuộc xô-xát vừa qua là do sự phẫn-uất của một nhóm võ-sĩ mà tôi đã kết nạp vào hàng ngũ Bảo-An Đội, bời vì cửa Phật luôn luôn mởi rộng cho bất cứ một chúng-sanh nào muốn trở về với Đạo mà tôi thấy họ rát cần-thết cho phong-rào tranh đấu để giải-phóng dân-tộc.
    Hiện nay, nếu quả thật như lời ông, còn một vài cuộc rắc rối là do những bọn bất lương mà trong tất cả thời loạn nào cũng có, mượn danh nghĩa của ông Trần-văn-Soái tự là Năm-Lửa để bóc lột lương dân. Nhưng chính ông Năm Lửa đang nỗ-lưc tiễu-trừ bọn ấy và cũng đang phải đối-phó với những bọn phản-động trong hành ngũ binh-đội Pháp, sau ngày 30-10, ở một vài nơi còn tiếp-tục khủng bố chúng tôi và dân-chúng, như 16 người trong hàng ngũ chúng tôi bị bắn và đánh chết trong lúc ban đêm tại Lấp-Vò chẳng hạn. Còn toàn thể đều tuân theo lịnh ngưng-chiến theo tinh-thần của Thỏa-Hiệp-Án14-9.
    Vấn.- Vậy sau khi ông tham-chánh tình-hình tín-đồ của ông ở Hậu-giang thế nào?
    Đáp.- Một năm qua, tôi mất hẳn liêc-lạc trong sáu tháng đầu. Từ tháng hai, khi tôi có vài liên-lạc gián-tiêp thì những xung-đột dữ-dội ngừng dứt rõ-rệt. Tuy vậy, không tránh khỏi vài sự xung-đột nhỏ giữa hai bên. Nó có tánh-cách cá-nhơn hơn là tánh-cách toàn-thể như trước, vì tôi và những huất-lịnh nghiêm-trị của một bên không được hiệu-lực toàn-vẹn. Theo những báo cáo mấy hôm nay thì sau khi tôi tham chánh, quần-chúng của tôi bắt đầu có một sự tín-nhiệm ở nơi sự hiệp tắc giữa đôi bên và sự tham-chánh của tôi cáo-chung những tuyên-truyền láo-khoét, phao-vui từ trước tới giờ. Những sự tuyên-truyền dó đã làm cho toàn-thể bị tủi nhục.
    Vấn.- Trong việc tham-chánh, ông có đại-biểu-cho một chánh đảng nào không?
    Đáp.- Về dĩ-vãng, sự hoạt-động của tôi xuất phát trong địa-phận Phật-giáo và kết nạp được hơn triệu tín-đồ. Thể theo tinh-thần đại đoàn-kết của toàn dân, tôi thay mặt cho đám quần chúng đó mà tham-gia hành-chánh về mặt tinh-thần. Nhưng trong sự hoạt-động để kiến-thiết quốc-gia về mặt chánh-trị thì tôi sẽ là đại-biểu cho chánh đảng nào có một chương-trình dân-chủ xã-hội.
    Vấn.- Như vậy xin ông cho biết lý-tưởng chánh-trị của ông có liên-quan với giáo-lý nhà Phật không?
    Đáp.- Theo sự nhận-xét của tôi về giáo-lý nhà Phật do nơi Đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật đã khai-sáng lấy Chủ-nghĩa từ-bi bác-ái đại-đồng đối với tất cả chúng-sanh làm nòng cốt thì tôi nhận Ngài là một nhà cách-mạng triệt-để về tư-tường; vì những câu "Nhứt thiết chúng-sanh giai hữu Phật-tánh"và "Phật cũng đồng nhứt thể bình-đẳng với chúng-sanh" Đã có những sự bình-đẳng về thể-tánh như thế mà chúng-sanh còn không bằng được Đức Phật là do nơi trình-độ giác-ngộ của họ không đồng-đều, chớ không phải họ không tiến-hóa ngang hàng với chư Phật được. Nếu trong cõi nhơn-gian nầy còn có chúng-sanh tiền-tiến áp-bức những chúng-sanh lạc-hậu thì là một việc trái hẳn với những giáo-lý chơn-chánh ấy. Giáo-lý đó, Đức Thích-Ca Mâu-Ni không áp-dụng được một cách thiết-thực trong đời của Ngài là do nơi hoàn cảnh xã-hội của Ấn-Độ xưa không thuận-tiện. Thế nên Ngài chỉ phát-dương cái tinh-thần đó mà thôi. Ngày nay, trình-độ tiến-hóa của nhơn-loại đã tới một mực khả-quan, đồng thời với tiến-bộ về khoa-học thì ta có thể thực-hành giáo-lý ấy để thiệt-hiện một xã-hội công-bằng và nhơn-đạo. Thế nên với cái tâm hồn bác-ái, từ-bi mà tôi đã hấp-thụ, tôi sẽ điều-hòa với phương-pháp tổ-chức xã-hội mới, để phụng-sự một cách thiết-thực đồng-bào và nhơn-loại.
    Vấn.- Trước khi từ giã, xin ông cho biết đời sống ở bưng-biền có ảnh-hưởng chi tới sự hành Đạo của ông chăng?
    Đáp.- Với sự hành Đạo của tôi cảnh sống nào tôi cũng có thể sống được. Cái hành Đạo đúng theo ý-tường xác-thực của nó là làm thế nào phát-hiện được những đức tánh cao cả và thực-hành trên thiệt-tế bằng mọi biện-pháp để đem lại cái phước-lợi cho toàn thể chúng-sanh thì dó là sự thỏa-mãn trong đời hành Đạo của mình, chớ những sự tùy-tiện về vật-chất đối với tôi, không có nghĩa lý gì hết.
    (Trích lục báo "NAM-KỲ" ngày 29-11-1946)


    THI VĂN GIÁO LÝ
    Những bài sáng-tác năm Đinh-Hợi (1947)

    ANH PHIỆT XƯỚNG: (1)
    Non nước ngửa nghiêng vẫn ngủ ỳ?
    Ai ôi tỉnh dậy, dậy rồi đi.
    Đi lo sự nghiệp trai thời loạn,
    Khỏi thẹn người xưa lúc gặp thì.


    ĐỨC THẦY họa:
    Lặng-lẽ tính toan đâu ngủ ỳ!
    Chỉnh-tu binh mã để rồi đi.
    Khi đi muông sói đều tan-vỡ,
    Rõ mặt hùng-anh tạo thế thì....
    Miền-Đông, mùa xuân năm 1947


    TẶNG CHIẾN-SĨ BÌNH-XUYÊN
    Trước khét tiếng trong làng dao búa,
    Lúc quân thù thống-trị nước non Nam.
    Khách giang hồ tụ ngũ tùng tam,
    Quyết khuấy nước chọc trời cho thỏa chí.
    Dân-chúng trách đám người không biết nghĩ,
    Cứ quanh năm suốt tháng phá hương-thôn.
    Vì an ninh giặc Pháp cử binh rồn,
    Khi sa lưới phải lao tù nơi hải đảo.
    Rồi vượt biển bao nài cơn gió bão,
    Về quê nhà tánh cũ cứ nghinh-ngang.

    Bài này của anh mười Phiệt, thuộc nhóm Bình-Xuyên (làm đã từ lâu) đọc có ý kích-thích Đức Thầy trong khi Ngài đang nằm nghĩ trưa. Đức thầy liền ứng khẩu đáp họa liền làm cho anh em

    Bình-Xuyên vỗ tay hoan-nghinh nhiệt liệt.

    Lúc hoàn-cầu tiếng súng nỗ vang,
    Bừng tỉnh giấc bàng-hoàng suy nghĩ lại.
    Từ thở bé bao phen tang hải,
    Khí kiêu-hùng đem lại những chi đâu?
    Nhìn non sông đượm vẻ âu sầu,
    Lòng yêu nước bắt đầu tim sóng dậy.
    Cờ độc-lập Bắc, Nam, Trung phe phảy,
    Trước gió chiều hãng-diện với lân bang.
    Bỗng phương Âu vô số bọn tham tàn,
    Tàu, bôm, súng đem sang non nước Việt.
    Ách nô-lệ dân ta đà chán biết,
    Nên quyết lòng nổi dậy chống xâm-lăng.
    Chỉ quân Tây thề một tiếng rằng:
    Thà cam chết, không làm dân bị trị.
    Bọn cách-mạng giả danh đang rối trí,
    Khu Bình-Xuyêt tiếng súng nổ vang tai.
    Đoàn dũng binh tiếng đếm một hai,...
    Nhắm hướng có quân thù xông lướt đến.
    Đạp thành lũy cứu giống nòi yêu mến,
    Làm rơi đầu, đổ máu biết bao ngàn.
    Tiếng anh-hùng nổi dậy khắp giang-san,
    Thay những tiếng bạo-tàn cơn thất chí.
    Xông trận địa nêu gương trang dũng-sĩ,
    Tự hào rằng Nam-Việt kém chi ai.
    Ngàn muôn năm ghi nhớ khách anh-tài,
    Trong sách sữ tiếng Bình-Xuyêt luôn chói rạng.

    Miền-Đông, ngày 10-1-1947

    TẾT Ở CHIẾN-KHU
    Tăng bạn ngày xuân chén rượu nồng,
    Uống rồi vùng-vẫy khắp Tây-Đông.
    Đem nguồn sống mới cho nhơn loại,
    Để tiến, tiến lên cõi đại-đồng.
    Rượu xuân càng nhắp cằng say,
    Gió xuân càng thổi thì tài càng tăng.
    Ngày tết năm nay ở chiến-khu,
    Bưng-biền gió lốc tiếng vi-vu.
    Xa xa súng nổ thay trừ-tịch,
    Dân Việt còn mang nặng mối thù,
    Mối thù nô-lệ trả chưa xong,
    Pháp-tặc còn trêu giống Lạc-Hồng.
    Dùng thói dã-man mưu thống-trị,
    Thì ta quyết chiến dễ nào không!
    Dễ nào không dám gắng hy-sinh,
    Giữ vững non sông đất nước mình.
    Tự lập nghìn xưa gương chói rạng,
    Anh-hùng khởi xuất chốn dân-binh.
    Dân-binh Nam-Việt mấy ai bì?
    Không súng tầm-vông cũng vác đi.
    Xông lướt trận tiền ngăn giặc mạnh,
    Liều thân cứu nước lúc lâm nguy.
    Nước lúc lâm nguy há đứng nhìn,
    Lòng mang Đại-Nghĩa để thân khinh,
    Máu đào xương trắng phơi đầy nội,
    Quyết đổi tự-do mới thỏa tình.
    Thỏa tình được sống dưới trời Đông,
    Tổ phụ ngày xưa rất đẹp lòng.
    Nhìn thấy cháu con không thẹn mặt,
    Từ đây non nước thoát nguy vong.

    Bình-Hòa (Chợlớn) ngày 2-1Đinh-Hợi (1947)

    KỶ-NIỆM RỪNG CHÀ-LÀ
    Rừng Chà-Là, rừng Chà-Là vạn tuế...!
    Thành lũy ấy chông gai bao xiết kể,
    Muôn quân thù đâu dám dẫm chơn vô.
    Đây là nơi tướng Việt thiết mưu-mô,
    Chờ cơ-hội quét tan loài xâm lược.
    Tranh độc-lập để bảo-tồn non nước,
    Biết bao lần chúng giặc phải cuồng-điên.
    Vì đem quân cả phá Bình-Xuyên,
    Chạm trán với chiến binh hùng-dũng.
    Một năm qua bền gan không nao-núng,
    Dù thảo-lương thiếu túng chịu gian-nan.
    Nơi riing xanh chịu lắm cảnh cơ-hàn,
    Mưa nắng táp gió sương dầu-dãi.
    Nước Nam-Việt ở ven bờ Nam-hải,
    Ngàn xưa từng chống lại họa xâm-lăng.
    Bạch-Đàng Giang công-nghiệp ấy ai bằng,
    Quân Việt ít đánh tan Mông-Cổ mạnh.
    Nay giặc Pháp buông lung kiêu-hãnh,
    Ỷ-lại vào tàu-chiến với phi-cơ.
    Nơi sa-trương chúng gặp cảnh bất ngờ,
    Sức kháng-chiến ngàn xưa nay sống dậy.
    Nơi Hành-dinh gió vàng phe phảy,
    Khách viễn phương mươn lấy tờ hoa.
    Vài câu văn thô kịch gọi là,
    Để kỷ-niệm chốn "Bình-Xuyên" anh-dũng.

    H.H. tặng chiến-sĩ Liên-khu Bình-Xuyên (2-47)

    ÔNG TRẦN-VĂN-SOÁI và ÔNG NGUYỄN-GIÁC-NGỘ

    (Dưới đây là lá thư với bút tự của Đức Thầy viết gởi về cho hai vị tướng chỉ huy quân đội PGHH đang có mặt trong vùng Đốc vàng hạ, nơi xảy ra vụ ám hại Đức Thầy đêm 25 tháng 02 Âl nhuần năm Đinh hợi, có sự xác nhận bút tự từ nhiều cao đồ PGHH sáng hôm đó)

    Tôi vừa hội hiệp với ông Bửu-Vinh bỗng có sự biến cố xảy ra, tôi và ông Vinh suýt chết, chưa rõ nguyên-nhân còn điều-tra; trong mấy anh em phòng-vệ không biết chết hay chạy đi. nếu có ai chạy về báo cáo rằng tôi bị bắt hay mưu sát thì các ông đừng náo động.
    Cấm chỉ đồn đãi, cấm chỉ kéo quân đi tiếp cứu, hãy đóng quân y tại chỗ.
    Sáng nay tôi sẽ cùng ông Bửu-Vinh điều tra kỹ-lưỡng rồi về sau.
    Phải triệt-để tuân lịnh.


    Ngày 16-4-47; 9 giờ 15 đêm

    Ký-tên: S.
    Lần sửa cuối bởi Buile, ngày 01-17-2012 lúc 03:46 AM.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •