"BUÔNG XÃ" của đổng đạo Dự Chương

Thảo luận trong 'Trao-Đổi Đạo Vị' bắt đầu bởi Tamtran, 25/2/14.

  1. Tamtran

    Tamtran Administrator


    BUÔNG
    Của Cư Sĩ DỰ CHƯƠNG

    KHI HIỆN DIỆN Ở CÕI THẾ GIAN NẦY, mỗi con người chúng ta đa số đều có khuynh hướng chiếm hữu, chẳng những đối với các vật chất tiện ích mà còn luôn cả đời sống về tinh thần nữa! Mảnh đất này, ngôi nhà này, chiếc xe này, quần áo tiền vàng này là của tôi. Sáng kiến ấy, tác phẩm này, kế hoạch kia là của tôi.v.v.. Trong dân gian vẫn còn tồn tại quan niệm cho rằng; ra đường gặp đám tang là hên, gặp đám cưới là xui phải chăng cũng xuất phát từ tư tưởng chiếm hữu đó. Khi một đối thủ cạnh tranh của mình đã nằm xuống cũng có nghĩa là chúng ta đã loại bỏ một chướng ngại ra ngoài vòng tranh đấu há không phải là một “vận may”? Ngược lại khi hai con người, hai gia đình, hai tộc họ đã cấu kết liên thủ với nhau chẳng những trong hiện tại mà còn tạo nên con đàn cháu đống ở tương lai, cuộc tranh giành cơm áo càng chật chội khó khăn chẳng là chuyện “xui rủi”?
    Ở Bù Đăng, người dân tộc Stiêng đã suy nghĩ ra một cách bắt Khỉ rất là trí tuệ. Họ thiết kế một chiếc hộp gồm có 4 mặt lưới chì và 2 mặt gổ, một mặt gổ làm đáy dùng để đựng mấy hạt đậu phộng làm mồi nhử, mặt gổ còn lại họ khoét một cái lỗ tròn vừa khít với bàn tay chúm lại của chú Khỉ. Sau khi quan sát cẩn thận, không tìm ra ngỏ nào khác để có thể lấy mồi trong bẫy, chú Khỉ đành chúm bàn tay nhỏ nhắn của mình vào cái lỗ tròn duy nhất đó, sau khi nắm chặt mấy hạt đậu vào tay, Khỉ ta không thể nào rút khỏi bàn tay nắm ra khỏi lỗ được, càng rút càng bị kẹt, Khỉ ta tức giận la lên chí chóe, chỉ chờ có vậy người đặt bẫy đưa tay nắm cổ, mãi đến lúc này chú Khỉ mới chịu buông nắm đậu và rút tay ra khỏi lỗ bẫy. Bài học quý giá rút ra từ chiếc bẫy nầy đáng để cho người tu tập chúng ta suy gẫm; một khi còn có cơ hội BUÔNG thì phải biết BUÔNG, đừng để như chú Khỉ kia đến lúc BUÔNG thì đã quá muộn màng…
    Trong thực tế của đời sống, tất cả mọi thứ tài, vật có phải là của chúng ta? Nếu có chăng thì cũng chỉ sở hữu chúng trong một khoảnh khắc hiện diện mà thôi! Ai cũng thừa biết rằng khi nhắm mắt xuôi tay thì tất cả mọi thứ đều phải trả lại cho cõi thế gian nầy! Biết là biết vậy,chứ mấy ai dám BUÔNG khi chúng ta còn hít vào thở ra. Phải chăng chính vì lẽ ấy mà chúng ta mãi mãi là phàm phu? BUÔNG, theo giáo lý Phật Giáo là một trong Tứ Vô Lượng Tâm – là “Từ Bi Hỷ Xả”. Bốn tâm này theo ngôn ngữ, chúng ta còn thấy có bốn theo hình thức biến hiện của tâm, nhưng từ trong hình thành chúng chính là một chuỗi khắng khít duyên sinh, cái nầy có bởi vì cái kia có, cái nầy không có bởi vì cái kia không có. Ở một góc nhìn thì BUÔNG chính là tâm XẢ, là không nắm giữ, là không câu chấp, là không chiếm hữu…không có BUÔNG được thì sẽ không bao giờ có được niềm vui an lạc, không có được niềm vui an lạc thì sẽ không bao giờ có được một tấm lòng xua tan nỗi khổ niềm đau của vạn loại hàm linh. Không có Từ sẽ không có Bi, không có Bi sẽ không có Hỷ, không có Hỷ thì sẽ không có được Xả. Bốn cái Tâm vô lượng nầy là một mắc xích, khi có một thì nó sẽ xâu kết ba cái kia, dĩ nhiên khi một cái bị đánh mất thì cái thế kết dính tất bị phân rả!
    Là người cư sĩ tại gia Phật Giáo Hòa Hảo, chúng ta vốn cưu mang rất nhiều thứ khổ đau do đời sống hằng ngày luôn bị va đập trên hầu hết các chiều kích sinh tồn, từ cơm ăn áo mặc, từ tiếng tăm danh vọng, từ ốm đau bệnh tật, từ ý thức tín ngưỡng… mọi thứ luôn trói buộc chúng ta dính chặt vào cõi Ta Bà điên đảo thị phi. Muốn thoát ra khỏi vòng cương tỏa, hay nói một cách đơn giản hơn là muốn buông xuống là chúng ta phải hạ quyết tâm tu tập một cách mãnh liệt, không thối bước nản lòng.
    Muốn buông thì trước hết chúng ta phải biết thực tập KHÔNG NẮM. Không nắm tức là để cho mọi thứ trôi qua một cách tự nhiên như thể chúng ta chưa từng biết đến, hay chúng ta chưa từng hiện hữu. Chúng ta phải biết rằng, chúng ta không thể can thiệp vào sự vận hành vô tư của vũ trụ, của trời đất! Không phải một vấn đề nào đó hay một hoàn cảnh nào đó xảy ra là để cho chúng ta, vì chúng ta không hề có chuyện đó, có hay không có chúng ta thì mọi thứ cũng cứ trôi chảy một cách vô tình, không vì ai và cũng chẳng cho riêng một ai! Có hay không là do chúng ta đã cố ý quan trọng chính mình, bằng cách lạm dụng thô bạo sự hiện hữu khoảnh khắc của mình, để làm cho vấn đề, cho hoàn cảnh ồn ào, thê thảm hơn mà thôi. Cứ nhìn lại tất cả mọi sự việc, mọi hoàn cảnh đã trôi qua của chính cuộc đời mình một cách khách quan, nhất là các cột mốc lịch sử. Sự thay đổi một hệ thống chính trị có phải là cho chúng ta, vì chúng ta không? Ông Thủ Tướng A được thay đổi bởi ông Thủ Tướng B cũng không phải do sự có mặt hay không có mặt của mình. Như một cơn gió mát mẻ thổi qua, hay một cơn bão lũ kinh hoàng xảy đến cũng không phải cho riêng ai, lẽ đương nhiên sự hưởng thụ cũng như sự gánh chịu không đồng đều nhau, đó cũng chính là sự vô tư của vũ trụ đất trời. Sự không đồng đều này cũng không phải là do ai đó áp đặt hay ban phát, mà là do chính chúng ta thọ hưởng tùy theo nghiệp lực của mỗi con người mà chiêu lấy quả. Sự không nắm nầy cũng đã được Đức Thầy ân cần chỉ bảo:
    …tôi lấy làm chẳng vui mà thấy một vài người trong Đạo và ngoài đời nhận lấy cái danh từ của tôi mà làm một ít cử chỉ trả thù không có xứng đáng với tấm lòng đạo đức từ bi ; trước kia chúng nó hà khắc ta,chúng nó đành!Ngày nay ta hà khắc lại,sao đành?Vì lòng chúng nó đầy sự hung tàn ; còn lòng ta lại đầy nhân ái!..”

    Hay là:
    “Theo học Đạo mặc ai mai mỉa,
    Ta cũng đừng gây gỗ với người…
    …Ta không tranh mà cũng không kình,
    Mặc bá tánh gièm pha thỏa chí…”

    KHÔNG NẮM cũng chính là một phép ẩn thân mỗi khi người đương cuộc biết đọc lên câu thần chú HÔ BIẾN, để mình không còn hiện diện nơi chốn thị phi ấy nữa. Lý thì như vậy, nhưng thần thông (nếu điều nầy được gọi là một phép thần thông) muốn đạt được không phải là một việc dễ dàng nếu chúng ta không hằng ngày thực tập! Người tu tập phải biết tự nhìn lại chính mình, có nghĩa là chúng ta phải can đãm nhìn vào trong, việc nhìn lại nầy người xưa gọi là phản quan tự kỷ…Chúng ta đừng bao giờ đánh giá một hoàn cảnh xấu nào đó là vô duyên, vô cớ đổ úp xuống cho mình, hãy nhìn cho sâu vào, ta mới thấy được rằng chính ta đã tạo nên hoàn cảnh ấy, cho dù trực tiếp hay gián tiếp. Một tai nạn giao thông chẳng hạn, không cần biết ta tham gia đúng hay không luật lệ giao thông thì chúng ta cũng phải chịu hệ lụy vì ta có tham gia, nếu ta không hiện diện trong dòng chảy ấy thì hoàn cảnh xấu có xảy đến cho mình hay không! Một cuộc cãi vả, một việc mưu cầu bất đắc có phải chăng vì chính ta trong chốn ấy? Thường thì ta hay đổ lỗi cho người mà ta quên mất rằng chính ta mới là người NHẬN RA lỗi ấy, cho dù xảy ra với một đối tượng khác chứ chẳng phải cho mình. Con đường tu tập của mỗi con người, dù không phải là chỉ thể hiện trong một khoảnh khắc, mà nó là cả một chặng đường dài suốt cả một đời người, nhưng ta cũng phải hiểu rằng nếu không có một khoảnh khắc khởi đầu thì sẽ không bao giờ có được một khoảng đường dài. KHÔNG NẮM là để cho mọi sự việc trôi tuột một cách tự nhiên, mà không hề có một mảy may vướng bận nào, mọi cái rồi cũng sẽ trôi qua bởi vì khi mà nó mới khởi thì nó cũng đang trở thành dĩ vảng, nói cách khác thì khi một hiện tại mới khởi đầu thì chính chúng cũng đang trở thành quá khứ! Việc nhìn lại, phản quan tự kỷ là một việc không thể thiếu trong cuộc đời tu tập của chúng ta, thái độ nhìn lại mình phải thật sự nghiêm túc, không thể lơ là lấy có…nếu có lỗi lầm với ai phải biết thành khẩn xin lỗi người và kỳ dư không tái phạm nữa. Những lỗi lầm nếu có không phải do ai đó mang đến cho mình, mà ngay trong ta cố ý hay vô tình mà gây nên nổi. Đừng cố kiếm tìm những cái tốt, cái hay của mình mà hãy cố gắng nhìn vào trong để phát hiện được tất cả lỗi lầm, những cái còn hạn chế của mình. Nhận ra được những thứ ấy để chúng ta có thể hoàn thiện chúng, ví như trước một cuộc viễn hành bằng phương tiện mô tô thì thái độ khôn ngoan nhất là phải kiểm tra lại toàn bộ máy móc, nếu cần thì phải tiến hành rã máy để thay thế các phụ tùng đã bị hỏng hóc. Có được như vậy thì cuộc viễn hành của chúng ta mới có hy vọng đi đến đích được.

    Muốn thực tập tốt KHÔNG NẮM, chúng ta phải biết thực tập KHÔNG TIẾC. Thông thường người ta vẫn cứ muốn cưu mang nhiều thứ vào đời sống tạm bợ của mình, chỉ lấy phương diện vật dụng hằng ngày làm thí dụ thì chúng ta cũng đủ thấy rõ điều này, mặc dù có quá nhiều thứ đã trở thành phế liệu nhưng người ta vẫn cứ giữ lại cho đến khi cảm thấy căn nhà trở nên bề bộn mới gọi người thu mua đến để bán đi, thế nhưng lại có một cuộc thẩm tra giá trị của các vật dụng nầy một lần nữa rồi mới ĐÀNH LÒNG bán đi, và thế nào cũng còn có một vài món được tiếp tục giữ lại, cho dù trước đó chúng đã được phân loại là phế liệu!
    Tình cảm con người cũng thế, nhưng phức tạp hơn nhiều, chính sự tiếc nuối đeo mang đã làm khốn đốn, khổ sầu cho không biết bao nhiêu cuộc đời thanh xuân nam nữ, họ vẫn cứ nhớ về, vẫn cứ hoài niệm những khối tình yêu dang dở bất thành:

    Chuyến về tay phủi sạch trơn
    Em đi phần xác bỏ quên phần hồn
    Bỏ quên lại mảnh trăng non
    Mai sau tiếc nhớ,đời còn ngẩn ngơ…
    (T.U)
    KHÔNG TIẾC là biết chấp nhận giây phút hiện tại, chấp nhận giây phút hiện tại cũng có nghĩa là biết sống cho bây giờ và ở đây, không vướng bận những điều chấp trước để cuối cùng không chuốc lấy sự bực dọc, khổ sầu…có nhiều người suốt đời chỉ biết loay hoay với những trật tự do chính họ tự đặt bày ra; cái bàn này phải đặt ở chỗ nảy, cái giường này phải kê ở chỗ kia, chồng sách phải thế này, hộp bút phải thế kia v.v. Nếu có ai đó vô tình hoặc cố ý làm xô lệch các trật tự kia là tức khắc sẽ bị khiển trách, càu nhàu. Đó là những vụn vặt trong cuộc sống đời thường, tại sao chúng ta phải chấp nhặt chúng chỉ để phí hoài đi thời gian quý báu được hiện diện ở cõi nầy, việc xếp đặt các vật dụng thường ngày trong gia đình ngăn nắp không phải là một việc làm đáng chê trách, nếu chúng ta không quá câu chấp, nắm chặt để từ đó tạo nên các phiền não cho mình, cho người. Tại sao chúng ta không biết rằng mình không thể nào đem theo được những thứ ấy một khi đã nhắm mắt xuôi tay!
    Ngày xưa, lúc Đức Phật chưa nhập Niết Bàn, Thế Tôn đã yêu cầu các vị Tỳ Kheo khi đi khất thực, không được trú ngụ dưới bất cứ cội cây nào quá ba đêm chỉ vì không muốn các vị Tỳ Kheo sanh tâm luyến tiếc nơi trú ngụ vừa lòng! Người xưa quyết tâm tu tập cật lực như thế ấy, mỗi vị Tăng chỉ có được ba y và một bình bát để đi khất thực hết nơi này sang nơi khác, không chấp nhặt xa gần, nhân tình bãi buôi hay gút mắt. Khi đã hạ quyết tâm tu tập thì tất cả mọi thứ kể cả xác thân ở cõi thế trần nầy đều phải được xem như là bọt nước làn mây, khi tan khi hợp:

    Tâm chánh niệm thường thường suy nghĩ,
    Vật ở trần như bọt nước làn mây,
    Thân ta còn rày đó mai đây,
    Của ấy cũng khi tan khi hiệp.

    (Đức Huỳnh Giáo Chủ - Q5)

    Các vị Tỳ Kheo là con của Phật, chúng ta người tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo há chẳng phải là con của Thế Tôn hay sao? Chúng ta đừng bao giờ cố trì niếu mình lại, cam tâm đọa lạc trầm luân ở chốn ta bà mà không dám phát lời đại nguyện vãng sanh về cõi nước Cực Lạc A Di Đà…con đường về cõi ấy chẳng phải độc quyền hay đặc ân cho ai cả, nó cũng không phải bỏ tiền ra mua vé và cũng không hề có việc xếp hàng theo số thứ tự. Chúng ta đã có Thế Tôn, đã có các vị Tổ Sư, đã có Đức Thầy Bổn Sư là những bậc Đạo Sư dẫn dắt tất cả chúng ta đi về cõi ấy, có chịu đi hay không, có kiên tâm bền chí hay không là chuyện của chúng ta, không phải là chuyện của các Ngài, các Ngài cũng KHÔNG TIẾC là tại sao chúng ta không làm theo các hướng dẫn của các Ngài. Ông tu ông đắc, bà tu bà đắc chính là đạo lý đơn giản và thực tế hơn hết, con đường đã được chỉ ra ai muốn đi xin mời cất bước:
    “Phật chẳng buộc ai phải ăn ở khổ hạnh và chẳng biểu ai ăn ở sung sướng, chẳng ép ai ăn chay chẳng xúi ai ăn mặn tùy theo trình độ và lòng nhơn của mình…” (Phật là gì? - Đức Huỳnh Giáo Chủ)

    “Tu không tu cũng không mời thỉnh,
    Mặc tình ai trong kỉnh hay chê…
    Viết kệ cơ giảng dạy ít bài,
    Mặc lê thứ làm không tự ý…”

    (Quyễn 4.Đức Huỳnh Giáo Chủ)

    Muốn BUÔNG, chúng ta phải gạt bỏ hai hệ quả của nó là KHÔNG NẮM KHÔNG TIẾC ngay từ trong căn gốc, để cho cuộc hành trình tu tập của chúng ta được nhẹ nhàng thanh thóat hơn! Cả ba lập trình này đều lệ thuộc vào 2 phạm trù: CHƯA CÓ ĐƯỢC và ĐANG CÓ ĐƯỢC.

    *CHƯA CÓ ĐƯỢC.

    Có người đã hỏi chưa có được thì tiếc cái gì và buông cái gì? Để trả lời câu hỏi này chúng ta cùng nhớ lại một câu chuyện trong quyển sách Giáo Khoa Thư có dạy cho những người học trò thời ấy một bài học là:
    Một anh chàng nhà quê kia rất hà tiện, nghe nói trên thành phố có nhiều việc vui lạ. Anh ta quyết định lên trên ấy xem cho biết, vì bản tính keo kiệt, nên trước khi đi anh chuẩn bị sẳn một phần lương thực chỉ có cơm trắng được bó thành đòn trong chiếc mo cau. Đi dạo một vòng, quả thực thành phố có quá nhiều điều khác với thôn quê, khi đi ngang qua một cửa hàng bán chả cá chiên, mùi thơm của chả làm anh sực nhớ là mình chưa ăn cơm. Muốn bước vào quán ăn nhưng sợ tốn tiền, vả lại phần cơm đem theo biết bỏ đi đâu? Mùi thơm của chả cứ bốc lên hấp dẫn khứu giác thèm thuồng của anh ta. Anh chàng nhà quê chẳng ngần ngại ngồi bệt xuống hàng hiên bên cạnh chảo chả đang chiên, mở đòn cơm trắng ra, hít một hơi dài mùi chả cá thơm lừng và cắn một miếng khá to cơm trắng nhai ngấu nghiến ngon lành…Sau khi ăn hết cơm và no bụng, anh ta toan bỏ đi thì người chủ quán ăn nắm áo anh lại đòi ba quan tiền. Anh nhà quê cãi lại, cho rằng anh chưa hề ăn mất cái gì của hàng quán cả. Người chủ quán ăn hỏi anh có ngửi thấy mùi chả cá chiên không. Anh nhà quê buộc lòng trả lời là có. Anh có ngửi mùi chả của quán ăn tôi, cũng có nghĩa là anh đã dùng bữa cơm với mùi chả của tôi, vậy thì anh phải trả tiền cho tôi là đúng rồi, không dưng ai lại chiên chả cho anh ngửi lấy mùi…
    Thế là sự việc được đưa đến cửa quan. Sau khi nghe sự tường trình của cả hai bên, quan trên đồng tình theo yêu cầu của người chủ cửa hàng chả buộc anh nhà quê phải trả tiền, và yêu cầu anh nhà quê phải đưa ra ba quan tiền xu. Quan gieo ba đồng tiền lên mặt bàn và hỏi người chủ cửa hàng chả có nghe thấy tiếng không? Chủ cửa hàng chả bảo là có nghe. Quan trả lại cho anh nhà quê ba quan tiền và bảo hai bên ra về. Người chủ cửa hàng chả vẫn tỏ thái độ không hài lòng vì cho rằng anh ta chưa nhận được gì từ người ngửi mùi chả. Quan trên bảo rằng:
    -Người ta có ngửi mùi chả cá của anh thì người ta đã trả lại cho anh tiếng ba đồng tiền. Lúc nảy khi tôi gieo ba đồng tiền xuống mặt bàn, chính anh đã trả lời là có nghe thấy tiếng rồi mà. Ngửi mùi chả, trả tiếng tiền là công bằng!
    Qua bài học trên, chúng ta thấy được rằng con người luôn tiếc nuối cả đến những thứ mà mình cũng không nắm giữ được nữa. Mùi chả nếu không được ai hít vào thì nó cũng lan tỏa vào không khí, vả lại cái mục đích làm cho mùi chả thơm lừng của người bán hàng cơm là muốn đánh động vào khứu giác của người qua lại, khơi dậy sự thèm thuồng của vị giác để bán cơm mà thôi…thế mà vẫn thấy tiếc rẻ nếu có ai đó sử dụng mùi thơm ấy mà mình - người chủ mùi thơm - không thu về một chút lợi gì! Một điều may mắn là trong chúng ta chắc không có ai là “bản sao” của người chủ quán hẹp hòi, trong câu chuyện kể ở trên. Nhưng may mắn vẫn không có nghĩa là trong mỗi con người chúng ta không có những nuối tiếc hẹp hòi như vậy. Cái xấu lúc nào nó cũng song hành cùng cái tốt, cái thiện ác, cái đúng sai thậm chí cái u mê và giác ngộ cũng như thế, chúng chỉ cách nhau một ly tơ hào!
    Chúng ta những người đang tu tập càng phải biết buông bò cả những thứ mà chúng ta chưa có được trong cả hai phạm trù vật thể và phi vật thể. Nếu chúng ta có đủ can đảm bước ra ngoài vòng cương tỏa của thế sự thì đời sống tu tập của chúng ta sẽ có được một sự tiến bộ, để chúng ta có thể vững vàng trên bước hành trình.

    *ĐANG CÓ ĐƯỢC.

    Những thứ mà hạng phàm phu chúng ta cùng có chung một cách cảm nhận là của mình, thuộc về mình quả là không ít. Hiếm có người nào biết được rằng những cái thuộc về chỉ là tạm bợ nhất thời, chính vì lẽ ấy mà ai cũng cố nắm chặt lấy mà không hề chịu buông bỏ. Trong sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý là sáu sở hữu thuộc về xác thân tạm bợ của chúng ta, một khi chúng kết với sáu trần cảnh: sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp, thì chúng sẽ cho ra đời nhiều cảm thọ dệt thành một màn vô minh dày đặc danh sắc, thọ, tưởng, hành, thức…
    Trong tuần lễ đầu tiên khi Thế Tôn thành đạo dưới tàng cây Bồ đề, Đức Phật bắt đầu suy luận theo chiều sanh khởi: Cái này có thì cái kia có, khi cái này phát sanh thì cái kia phát sanh. Do vô minh phát sanh nên hành phát sanh, hành phát sanh nên thức phát sanh, thức phát sanh nên danh và sắc phát sanh, danh và sắc phát sanh nên Sáu Căn phát sanh, Sáu căn phát sanh nên Xúc phát sanh, Xúc phát sanh nên Thọ phát sanh, Thọ phát sanh nên Ái phát sanh, Ái phát sanh nên Thủ phát sanh, Thủ phát sanh nên Hữu phát sanh, Hữu phát sanh nên Sanh phát sanh, do Sanh phát sanh nên Bệnh, Lão và Tử, Phiền não Đau khổ phát sanh.
    Khoảng canh ba đêm đó, Thế Tôn suy luận theo chiều hoại diệt: Khi cái này không còn thì cái kia cũng không còn, khi cái này diệt thì cái kia cũng diệt. Khi hết Vô minh thì Hành chấm dứt. Khi hết Hành thì Thức chấm dứt. Khi hết Thức thì Danh và Sắc chấm dứt. Khi hết Danh và Sắc thì Sáu Căn chấm dứt. Khi hết Sáu Căn thì Xúc chấm dứt. Khi hết Xúc thì Thọ chấm dứt. Khi hết Thọ thì Ái chấm dứt. Khi hết Ái thì Thủ chấm dứt. Khi hết Thủ thì Hữu chấm dứt. Khi hết Hữu thì Sanh chấm dứt. Khi hết Sanh thì Bệnh, Lão, Tử, Phiền não, Đau khổ chấm dứt. Toàn khối đau khổ trong cuộc sống hiện tại có thể được chấm dứt như thế.
    Đó là Chân lý của Đấng Giác Ngộ và đó cũng là lời dạy cho các bậc Thượng căn Thượng trí, còn chúng ta hàng sơ cơ thời hạ ngươn mạt pháp chỉ có thể nương dựa vào cái chân lý sinh diệt này mà dốc tâm buông bỏ các thứ thuộc về tạm bợ khi ta còn hít vào thở ra! Vô minh là không biết chơn tâm của mình, Đức Phật dạy trong kinh Lăng Nghiêm: “Tri kiến lập tri, tức vô minh bổn” nghĩa là từ tánh biết không có chủ thể và đối tượng mà lập ra cái “biết” có chủ thể và đối tượng, rồi sáu căn vướng mắc vào sáu trần sanh ra chê khen thương ghét, đó chính là gốc của vô minh. Do vô minh nên thấy có đối đãi, phân biệt. Do vô minh nên vạn vật vô thường mà ta cho là thường, vô ngã mà ta cho là ngã, dục, lạc ở thế gian là khổ mà ta cho là vui…Vô minh đích thị là như thế đó, biết được nó là như vậy để chúng ta vững vàng mà buông bỏ lợi danh, tiền tài, tham, sân, si, ngã mạn và ác kiến…
    -Hãy buông bỏ cái nhà xuống đi, nó chỉ là phương tiện che nắng che mưa, đừng biến nó trở thành món đồ trang sức.
    -Hãy buông bỏ những danh thơm, lời xấu để không tự mãn khi được người khen, không sân nộ buồn lo khi có người phê phán và sỉ mạ.
    -Hãy buông bỏ tính tự kiêu, ngã mạn để đừng bao giờ thấy minh là một nhân vật quan trọng, mọi người xung quanh không có ta sẽ không sống được, đoàn thể không có ta sẽ phải suy tàn. Hãy nhớ rằng chúng ta tu tập không phải cho Thầy, không phải cho cộng đồng tập thể, mà chúng ta tu tập vì lợi ích của mỗi chúng ta, mỗi bản thân chúng ta, được vãng sanh hay đọa lạc bởi do mình trước hết.
    -Hãy buông bỏ lòng tật đố, người giỏi hơn ta thì ta mừng vì có nơi để ta học tập. Người giàu hơn ta thì ta hân hoan vì ta khỏi phải cưu mang đùm bọc.
    -Hãy buông xả tiền tài vật chất, bởi rõ ràng chúng ta không thể mang theo lúc cuối đời và không thể tiếp tục sử dụng các thành quả cật lực lúc sinh thời để giải trừ, chuyển hóa những nghiệp chướng, mà ta ít nhiều đã gây ra cho các oan gia trái chủ.
    -Hãy buông bỏ bản ngã để có thể thoát ra ngoài vòng đối đãi thị phi, để được an nhiên tự tại…
    -Hãy dán chặt lên trán mình nhản hiệu “phàm phu”, để từng lúc được mọi người dạy bảo, để từng lúc nổ lực tự thân một cách kiên trì trên bước đường tu tập đến hết đời!
    Tóm lại, một khi chúng ta - người đang tu tập - nếu ta không buông xã được những tập khí, những thói quen này chính là ta đã trực tiếp cung ứng những thực phẩm khoái khẩu cho bản ngã càng lúc càng dầy đặc vô minh. Đức Thầy cũng từng chỉ rõ:

    Màn vô minh che mờ căn trí
    Nên thường khi nhận ngụy làm chơn
    Lo huyễn thân vật chất kém hơn
    Chẳng tìm biết tinh thần đạo đức
    Dệt lưới nghi đeo điều phiền phức…

    Theo Hán tự, một loại chữ viết tượng hình, thì chữ NGỤY gồm hai chữ ỦYQUỶ. Ủy là giao quyền, là ủy thác. Chữ Ngụy là giao quyền cho QUỶ.Chữ nghĩa thì rõ ràng như vậy, cho nên chữ ngụy mà Đức Thầy dùng nó hết sức thâm trầm và sâu sắc, phận là người học tu ít nhiều ta cũng phải sáng tỏ điều thú vị này! Chính vì thế, chúng ta phải hạ quyết tâm buông xả mọi thứ, mọi điều huyễn hoặc.
    Ngày xưa, có một vị thiền sư hành Đạo từ nơi này sang nơi khác, không có một nơi ở nào cố định, nên đi đến đâu ông thường quảy một túi vải đồ dùng cá nhân trên vai. Một hôm có người hỏi:
    -Thưa Thiền sư xin Ngài chỉ dạy cho chúng con thế nào là Đạo?
    Thiền sư không nói gì, Ngài chỉ buông bỏ túi vải đồ dùng cá nhân trên vai xuống đất và bỏ đi! Phải chăng Đạo chính là sự BUÔNG BỎ.
    Vậy, người tu tập chúng ta nhất thiết phải biết buông xả cái gì? Lẽ tất nhiên là chúng ta cần phải buông xả các yếu tố tạo thành Vô Minh, chính là THAM, SÂN, SI, MẠN, NGHI. Các yếu tố này lúc nào cũng “phục kích”ngay trong tâm ta, chúng chính là những thứ có sẳn từ khi ta hiện hành ở cõi thế gian này!

    *THAM:


    “Chữ Tham trong ý muốn mặc tình,
    Rán định tánh trừ cho nó tuyệt…”

    Đức Thầy đã chỉ rõ chữ Tham là như vậy, nhưng thế nào mới được gọi là biết đủ, bởi đời sống xã hội không chỉ cấu thành từ một tầng lớp bình đẳng với nhau, mà bản chất của đời sống xã hội chính là được tạo nên bởi những bất công và bất bình đẳng. Do vậy lòng tham của mỗi con người, mỗi tầng lớp sẽ không thể nào giống như nhau được. Tuy nhiên,dù người ở giai tầng xã hội nào thì lòng tham vẫn không ngoài: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc. Mắt tham thấy đẹp, tai tham nghe tiếng hay, mũi tham ngửi mùi thơm, lưỡi tham thích vị ngon, thân tham xúc chạm vật mềm mại. Lòng tham đắm tạo nên tâm lý của con người là luôn chạy theo sự tham muốn của mình, cho nên mỗi khi chiếm được rồi thì lại bắt đầu lo sợ mất đi, cứ như thế làm cho túi tham của con người vô cùng tận…Có những lý luận rất dể thương và cũng rất ư là “chân lý”: Phải cố gắng kiếm thêm để phòng khi bất trắc, nhưng thực ra có mấy ai thực sự lo được cho mình! Con người không chỉ tham đắm tiền tài, vật chất mà còn tìm cầu đủ mọi thứ giữa con người với nhau, giành giựt chà đạp lẫn nhau. Nếu chúng ta có thể vượt được lên trên để có cơ hội nhìn trở lại, chắc chúng ta sẽ khủng khiếp vô cùng vì lòng tham chẳng những làm cho mình bất an mà còn là một tai họa cho xã hội.

    Cho dù anh đang trong một tầng lớp xã hội nào, thượng lưu hay bần hàn thì nhu yếu cần thiết cho con người là giống nhau đó là ăn no, mặc ấm, nhà ở kín đáo và đi lại dể dàng…nếu mình có được các nhu yếu nầy mà không mong cầu phải ăn ngon, mặc đẹp, nhà cao cửa rộng, đi lại bằng phương tiện hiện đại. Đó chính là sự thể hiện lòng không tham. Ngoài những thứ mình cần chúng ta không nên vọng cầu thêm nữa, biết đủ mà kịp thời dừng lại là chúng ta đã giác ngộ.
    Ngoài những tham cầu về vật chất, con người chúng ta còn tham cầu luôn cả những điều thị phi, tốt xấu, khen chê…Lòng mong cầu cho mọi người được sống vừa đủ như mình là một điều thiện, nhưng chúng ta phải luôn cảnh giác bởi vì tiềm ẩn bên trong hành vi thiện ấy còn có rất nhiều “cạm bẫy”.
    Nếu những vật chất mà chúng ta sử dụng để giúp đở cho người là tài sản của chúng ta thì chúng ta cũng phải gạn hỏi lại mình, vì lý gì mà ta lại giúp đỡ cho người? Vì người đang khổ nạn hay vì mình đang cần cho mọi người biết là mình hay làm việc thiện!
    Nếu những vật chất cần giúp người mà chúng ta không có cần phải đi quyên góp, kêu gọi thì vấn đề lại thêm phức tạp và nguy hiểm hơn. Trong lần trùng tu và sửa chữa lại ngôi Chùa Thầy cần phải có chi phí rất lớn, nên mọi người phải đi vận động tiền trong cộng đồng tín hữu, sau khi đã quyên góp được một số mọi người đồng về đến Ban trùng tu để nọp tiền. Đoàn đi gồm có năm người, tất nhiên trên đường đi cần phải có những chi tiêu nào là tiền ăn sáng, tiền đò, tiền xăng vì mọi người đi bằng xe gắn máy. Một người đứng ra chi trả các khoản tiền này, nhưng khi được hỏi số tiền chi phí ấy từ đâu mà có, người chi trả, trả lời một cách vô tư:
    -Trích ra từ khoản tiền quyên góp trùng tu Chùa Thầy!
    Chúng ta cũng không cần phải đánh giá việc chi xài ấy đúng hay là sai, nhưng ít nhất ta có thể rút ra từ việc ấy một bài học có giá trị. Chúng ta có cần phải làm như thế hay không? Đừng bao giờ quan niệm “của người phúc ta”, suy nghĩ nầy là từ tâm giả, là còn vướng mắc lòng tham. Tâm tham nó luôn biến hiện dưới rất nhiều hình tướng, nó có rất nhiều phù phép nhiễu loạn đến chơn tâm của ta, nó luôn “ tô hồng” để phỉnh lừa người tu chúng ta, nó tự biện hộ là ta không tham.
    Muốn không tham chúng ta cần phải biết tri túc. Tri là biết, túc là đủ. Tri túc là biết đủ, biết vừa đủ cũng chính là phải biết mình. Phải biết ta là ai? Trình độ khả năng tu tập của ta đến đâu? Thông suốt vấn đề này, người tu tập chúng ta có nhiều cơ hội hơn để có thể vượt thoát những cám dỗ của lợi danh và quyền thế. Danh và quyền là những thứ hết sức ngọt ngào của đời sống, nhưng bên trong của nó chứa đựng những nổi đắng cay vô cùng tận…chúng ta phải biết sống thanh bần và khiêm hạ. Trong thế kỷ 21 nầy, trước quá nhiều thành tựu của khoa học về tiện ích của đời sống vật chất xã hội, nếu nhìn khách quan trên một mặt nào đó thì những thành tựu nầy có thể so sánh với các thần thông của Bồ Tát, của A la Hán. Con người cũng có thể đi mây về gió, cũng có thể thấy nghe nghìn dặm…nên chúng dễ dàng khuyến dụ con người chúng ta. Ngày nay,dù chúng ta không quá cổ hủ và khắt khe khi để tâm quán xét đời sống tu tập của giới nam nữ tu sĩ trẻ, áo quần, giầy dép, phương tiện nghe nhìn đi lại toàn là những loại hàng thượng phẩm. Có một số tu sĩ đã mua được xe con 4 bánh vội cho rằng thời buổi nầy tu dễ lắm, muốn chi có nấy, người ta quên rằng từ xưa đến nay không ai đi tìm Đạo ở tiền tài vật chất, không người tu hành chơn chánh nào lại là phú Tăng mà người ta chỉ thành thật tự xưng mình là Bần Đạo. Chả lẽ “hủy hình thụ khí tiết” mà tạo được sự nghiệp vật chất mới là người tu tập thành công? Có người đã bỏ cung vàng điện ngọc để đi tìm con đường giải thoát, cũng có người rời bỏ mái gia đình yêu thương, êm ấm để “xuất gia hoàn đại đạo, thề độ nhất thế nhân…” Khó lắm, khi chúng ta phải chịu sự vuốt ve của vật chất xa hoa; vã lại những tiền của mà chúng ta dùng để mua sắm, nếu không phải do mẹ cha, anh em, họ hàng thân bằng quyến thuộc cung cấp cho mình thì cũng là của các vị “đàn na thí chủ”. Nặng nề lắm, khi chúng ta biết thành tâm nhìn lại mình có thể làm được điều gì để báo đáp!
    Người đang tu tập chúng ta,khi làm gì cũng phải nắm vững nguyên lý “tri túc”, có nghĩa là vừa đủ, việc gì hễ vừa đủ là tốt, không nên keo kiệt và cũng không nên lãng phí. Cư xử với mọi người chung quanh không nên quá nghiêm khắc và cũng không nên quá mềm yếu…Có một phương pháp điều trị tâm Tham là trước khi ta sử dụng tiền bạc, vật chất để làm bất cứ việc gì thì chúng ta phải niệm hồng danh của đức Phật A Di Đà hay Bồ tát Quán Thế Âm, để các Ngài giúp chúng ta có thể chuyển hóa tâm tham trở thành tâm tự nguyện, biết xẻ chia những nhu yếu của đời sống dư thừa cho những người khác đang thiếu thốn tận cùng, để từ đó ta có thể nuôi lớn tâm Từ. Tóm lại con người ai ai cũng phải biết trân trọng nhau, phải biết sử dụng vừa đủ những ân sủng của đời ban tặng cho ta.
    Khi ước muốn vượt quá nhu cầu thiết yếu thì gọi là Tham. Trong cuộc sống nếu biết đủ,ít ham muốn, tâm không đua đòi chạy theo vật dục thì đời sống tất sẽ được an lạc.

    *SÂN.


    “Chữ gây gỗ là Sân hãy diệt.
    Cho nó đừng thấp thoáng trong lòng…”

    Một khi hiện diện ở cõi thế gian nầy, mỗi con người chúng ta đều không thể tránh được tâm Sân nộ. Tâm Sân nộ nầy thường được hiện hành ở ngôn ngữ và hành vi, khi hiện hành trước nhất nó làm tổn thương cho chính bản thân mình và sau đó sẽ “tàn phá” đến đối tượng và những người chung quanh. Có tâm Sân là bởi vì chúng ta mưu cầu bất đắc, không thỏa mãn với hoàn cảnh ngoại tại…nhưng tất cả những uất hận ấy đều do chính bản ngã của ta gây nên, sân nộ không chỉ do hoàn cảnh ngoại tại mà con do nội tại nữa. Có nhiều người không chỉ hận người mà còn hận đến cả mình nữa!
    Giáo lý Phật giáo gọi sân là lửa; một niệm sân khi khởi lên thì sẽ thiêu cháy cả một rừng công đức, khi một niệm sân tâm khởi, thì cùng lúc trăm vạn cửa chướng ngại cũng được mở ra. Sân nộ chính là tức giận, giận người giận mình. Theo chứng minh của Khoa học khi một người tức giận thì tế bào trong thân thể người ấy sẽ chết rất nhanh, đồng thời các hệ thống tiêu hóa, tuần hoàn và bài tiết cũng sẽ sinh ra nhiều chướng ngại. Sự phát tiết này thực sự là rất nguy hại cho sức khỏe, nhưng một khi tức giận mà không được phát tiết thì lại càng cực kỳ nguy hiểm. Nói theo kiểu ngôn ngữ khôi hài của dân gian thì phát tiết được hay không còn được gọi là “nóng lựa”; khi một kẻ nào đó hoặc một hoàn cảnh nào đó “gây nên” nóng giận cho mình, thì sự khôn ngoan của con người là phải biết lựa, nổi nóng với họ được không trong hoàn cảnh như thế này? Đối tượng nổi nóng của mình là ai, dễ chơi hay là khó chơi? Hoàn cảnh này có lợi hay bất lợi? Khởi thủy thì ai ai cũng biết cân nhắc như vậy. Nếu hoàn cảnh thuận lợi, đối tượng dễ xơi thì lửa hận đùng đùng. Nếu hoàn cảnh không thuận lợi và lại gặp đối tượng khó nuốt thì cũng phải nén lại, mang luôn cái biển lửa ấy theo mình và…xui rủi cho đối tượng nào thậm chí vợ con, cái bàn, cái ghế, con chó, con mèo nào xuất hiện trong thời điểm ấy, thế là một trời mưa gió, chiến trận tan tành…
    Khi tâm sân khởi, nhất là tâm sân của những con người đương đại là khủng khiếp và tai hại không lường được. Nó bao gồm các sự việc không hài lòng, tức giận, oán hờn, xem thường người khác và không tự tại…những bạo loạn, chiến tranh, khủng bố, đánh bom tự sát chẳng phải là sản phẩm được làm ra từ tâm sân nộ hay sao?
    Khi sân tâm khởi, con người thường muốn gieo trả lại những gì mà người khác trót làm cho chúng ta đau đớn khổ sầu, mà luôn quên rằng trước khi “kẻ thù” của chúng ta đau đớn thì ta,gia đình ta, bạn bè ta phải hứng chịu nổi khổ niềm đau ấy trước nhất.
    Có một người kia bất ngờ bị trúng một mũi tên, anh ta không chịu băng bó thuốc mà nằn nặc đòi biết người bắn anh ta là ai, vì quá sân nộ anh ta nhổ phắt mũi tên cầm trên tay để sẳn sàng đâm lại, nếu biết người bắn ấy là ai. Tức giận anh ôm lấy vết thương về nhà hỏi vợ kẻ nào đã bắn trúng anh. Vợ anh làm sao biết được là ai, thế là anh lại đâm cho bà vợ một cái, cứ thế lần lượt đến con, đến anh em và thân bằng quyến thuộc đều bị anh đâm cho một mũi tên…Trong thực tế, nếu chúng ta biết tự nhìn lại mình thì rõ ràng chúng ta, ai cũng chính là anh chàng bị trúng tên nọ. Nếu ta gặp phải một điều bất mãn, một cơn giận ở đâu đó chúng ta thường mang chúng về nhà ta thán với vợ con, với người thân có mặt, thậm chí còn gọi điện thoại cho những người thân thích ở xa, lý luận phân trần chỉ nhằm quy chụp trách nhiệm, lỗi lầm cho kẻ gây nên. Vậy thì có phải ta cũng đã gây nên nhiều vết thương khác cho những người thân yêu, chỉ vì chúng ta không biết sân nộ chính là phiền não, chính là một niềm đau. Chuyện xảy ra thì nó đã xảy ra rồi, nếu có não phiền và đau đớn thì cũng não phiền đau đớn rồi! Việc gì chúng ta cứ lôi kéo nó lại? Việc gì chúng ta lại chuyền những não phiền và đau đớn cho những người thân yêu của chúng ta!
    Trong kinh Bách Dụ, phẩm 68 có một thí dụ:
    Thuở xưa có một người thù địch với người khác, anh nghĩ không ra phương pháp báo thù, cứ uất ức trong lòng, mãi không lúc nào vui.
    Có người hỏi:
    -Anh vì sao uất ức buồn rầu?
    Anh trả lời:
    -Có một người thường hay nói xấu tôi thậm tệ, tôi tức giận vô cùng, tôi hằng nghĩ cách báo phục mối thâm thù ấy, nhưng nghĩ mãi không ra, cho nên tôi tức giận và khổ buồn vô hạn.
    Người kia nói:
    -Chỉ cần đọc một câu thần chú bí mật kêu là Tỳ Đà La có thể giết người kia chết tức khắc. Nhưng trì chú nầy có một triệu chứng nguy hiểm, nghĩa là sau khi trì xong chính thân anh chết trước. Tôi nhận thấy tốt hơn anh đừng trì, thì khỏi bị thảm cảnh người thù chưa bị hại mà chính thân anh đã bị hại rồi.

    Người kia nghe thấy không cần tính toán suy nghĩ, vui vẻ phi thường:
    -Xin ông làm ơn dạy tôi câu chú ấy, tâm muốn báo thù của tôi mãnh liệt vô cùng; miễn sao kẻ thù của tôi có thể chết, dù thân tôi có chết trước tôi cũng vui lòng.
    Chuyện này tỷ dụ: Tánh sân giận kết oán gây thù, tai hại không ít; muốn hại người, thường thường người chưa bị hại mà trước đã hại mình; có một ít người vì lòng sân hận sai khiến hủy hoại thân mình một cách đáng thương. Họ bị lòng sân dẫn dắt, luống đưa mình vào con đường hại mình hại người vô cùng bi thảm, trầm luân vĩnh kiếp không thôi! Chỉ cần mau mau phản tỉnh dùng pháp từ bi thanh tịnh để tu sửa đối trị thân tâm, khiên cho mình và người đều được an lạc, mới phù hợp với đạo giải thoát chơn thường.

    Đối xử với người chung quanh mà không có tâm Từ thì gọi là Sân. Nếu có người nào đó biết bồi dưỡng và nuôi lớn tâm Từ thì niệm Sân của người ấy chẳng những sẽ suy giảm mà còn có thể tiêu tan.

    *SI.

    “Thêm chữ Si thiệt quá lòng dòng,
    Nên tỉnh trí tìm nơi vụt tắt…”

    Giáo lý dạy Si là một trong các phiền não căn bản của chúng sanh, không biết nhìn mọi vấn đề như thật. Thị là phải, phi là trái. Thị phi là phải trái, là đúng sai, là chánh tà. Thị phi điên đảo là không biết phải quấy, chánh tà, đúng sai còn gọi là “chấp mê bất ngộ”, Si mê là nhìn sự lý không rõ ràng, cố chấp vào những quan niệm thông thường cho là “chân lý”; vô thường mà cho là thường, lấy khổ làm vui, lấy dơ làm sạch, lấy vô ngã làm ngã (không phải của ta mà cho là của ta)…
    Tất cả sơn hà đại địa ở cõi ta bà nầy không có gì là thường còn, chúng thay đổi trong từng sát na, trong từng khoảnh khắc. Ngài Khổng Phu Tử nói: Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ! Nghĩa là ôi nước sông trôi ngày đêm, không bao giờ ngừng nghỉ sao! Triết gia Heraclitus cũng đã nói: “Chúng ta không thể tắm hai lần trong cùng một dòng sông”. Phải chăng Khổng Tử và Heraclitus đã nói lên cái vô thường nầy. Phàm phu chúng ta hay thề non hẹn biển để biểu thị cho lòng dạ sắt son thường hằng nhưng núi kia, sông nọ có thực là thường hằng không? Chúng ta phải từng bước thực tập cách nhìn chánh kiến theo lời dạy của Phật trong kinh Kim Cang: Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai. Thường cái gì mà hạng phàm phu chúng ta nhìn thấy có tướng trạng đều là hư vọng vô thường, nếu biết nhìn các tướng trạng mà không theo các tướng trạng, thì đó là cái thấy như thật của Như Lai.
    Không phải chỉ có những sự vật bên ngoài chúng ta mà thậm chí đến bản thân mình, những thứ vật chất đang lưu chuyển, những tư tưởng đang hiện hành hay còn ẩn tàng trong tiềm thức do được cấu trúc từ các đối tượng vật lý bên ngoài cũng đều là không thường; xác thân ta của ngày hôm nay nếu biết nhìn “như thật” thì hẳn không phải là xác thân của ngày hôm qua. Tư tưởng và tình cảm cũng vậy chúng tồn vong trong từng khoảnh khắc, khi khỏe mạnh, lúc ốm đau, khi vui, khi buồn, khi dư giả, khi bần hàn…mọi thứ đều được biến hiện theo “đơn đặt hàng” của đối tượng, và ý niệm của xác thân huyễn hóa.
    Lấy khổ làm vui cũng là một hình thái của tâm si. Cứ nhìn cho sâu vào những người nghiện rượu chẳng hạn; khi nhập tiệc với bạn bè “chén thù chén tạc” hả hê hưng phấn, đến khi “chén mầy chén tao” thì ngổn ngang trăm mối tai ương họan họa. Hầu như những người nầy cho dù không phải bể đầu xứt trán, không phải lâm vào vòng lao lý thì sau một cơn say bí tỉ, họ đều có chung một cảm nhận lở lầm hối hận trong lòng, nhưng cho dù có thế nào đi nữa thì trong một vài hôm họ lại tiếp tục lao vào thú mê si với một tâm thái hưng phấn hơn…và cứ như thế, như thế mà khổ đau trùng trùng. Có một người “thất thập cổ lai hy” vẫn còn nghiện thuốc lá, con cái và các bạn đồng tu khuyên ông nên bỏ, ông phản đối quyết liệt cho rằng mình còn sống được bao lâu nữa mà lại đày đọa xác thân cho thèm khát! Đây chính là lý luận của người nếu không phải là mê si, thì cũng là của người lấy ngược làm xuôi, lấy quấy làm phải, lấy khổ làm vui. Lại có những bậc “lão trượng” lấy làm hãnh diện khi được “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa” các nàng “Tiên Bửu”…Tâm mê luôn não loạn con người, từ cái nhìn thấy, cái lắng nghe, cái ăn mặc, cái xúc chạm, cái ý niệm v.v.. đều được “gạn lọc” theo chiều hướng phi chơn thật.
    Lại có những vấn đề tế nhị hơn nữa, nó không hiện hành cụ thể mà luôn được ẩn tàng phía sau nhản hiệu chánh nghĩa, để nuôi lớn bản ngã của ta. Chúng ta phải thấy rằng trong cuộc sống bao giờ cũng có cái đối lập. Khi có cái hợp lý thì tất phải có một cái gì đó được gọi tên là vô lý, nếu đã có cái được gọi là đẹp thì nhất định phải có một cái gì đó là xấu, như thế hễ có cái thiện thì dứt khoát phải có một cái đại diện được gọi là ác…những cặp đối đãi này thoạt nhìn như chúng đang là đối lập nhau, nhưng nếu ta biết nhìn vấn đề như thật thì cái này đang thường xuyên hỗ trợ cho cái kia thêm giá trị. Do vậy ta có cần phải cạnh tranh nhau hay không? Theo thông điệp của Thế Tôn:“Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành” cũng nói lên được là dù người đã chứng ngộ cũng không được coi mình là cao hơn người chưa chứng ngộ. Thế mà oái oăm thay, lại có nhiều người nghiện cái thứ lý sự nầy, họ luôn cho là mình đúng mà một khi mình đã đúng rồi thì những người khác là sai, họ cố tìm hết cách biện luận này đến cách biện luận khác để chứng minh cho bằng được là người khác sai, mình đúng! Chính vì thế họ đã phân hóa giáo lý của Tổ Thầy thành nhiều giáo phái, hệ phái dựa trên những lập luận “chủ nghĩa cá nhân”, mặc dù đôi khi sự khác biệt nầy rất nhỏ, họ quên rằng phần lớn con người thường giải thích kinh sách qua lăng kính của lý trí, chính cái trí óc luôn luôn lý luận nầy đã đưa đến sự phân tách tỉ mỉ và đó là nguyên nhân tạo nên sự khác biệt; họ cũng quên rằng phong tục tập quán xã hội, khuynh hướng cá nhân hoặc sự giáo dục của gia đình, của tư tưởng chính trị chế độ đương quyền, trong nhiều năm tháng cũng nhồi nắn quan niệm cá nhân vào một đường hướng nào đó không giống với quan niệm của nhiều người khác. Có quá nhiều “lý thuyết gia” lúc nào họ cũng phân tích, nhận định, dựa trên các dữ liệu để cuối cùng đưa ra một định hướng cho một giai đoạn đấu tranh hay phát triển trong một thời gian năm năm mười năm…Nào ngờ đâu các dử liệu mà họ nắm bắt đều không phải là “như thị”. Con người thay vì đi tìm những điểm giống nhau thì phần lớn lại cố tìm những điểm khác nhau để phân biệt truyền thống này với truyền thống kia! Có phải chăng chính cái lý trí giới hạn của con người chúng ta đã tạo nên những bức tường ngăn cách, xếp đặt những cái linh hoạt, sống động thành những hệ thống cứng nhắc rồi áp đặt lên chúng những giá trị đúng sai,tốt xấu…Khi một lý thuyết nào đó tạm thời được ca ngợi,được đắc thế thì cũng chính là lúc mang liền theo các nổi khổ không lường, nếu không cho người đang đắc thế thì cũng cho kẻ thảm bại. Chỉ khi nào những người tu tập, biết vượt lên trên mọi phân biệt tranh chấp, thì sự thật mới có cơ hội được phơi bày trọn vẹn bằng chính sắc mầu dễ thương của chúng cho dù là đớn đau hay hoan lạc.
    Con người chúng ta thường hay lầm lạc lấy dơ làm sạch mà cứ cho rằng những vật chất ấy là hoàn toàn trong sạch! Mặc dù các thức ăn chúng ta đưa vào cơ thể hằng ngày có thể đã được chọn lọc,khử trùng nhưng chúng thực sự là vô hại hay không? Các thức ăn ấy chỉ sau 24 hoặc 48 giờ sẽ được bài tiết ra khỏi cơ thể là sạch hay dơ, thậm chí những thành phần vừa được chắc lọc giữ lại để nuôi sống thân xác nầy có hoàn toàn trong sạch, không gây nên bệnh hoạn cho ta không? Ai cũng biết rằng cơ thể con người được cấu tạo nên bốn thứ vật chất: đất, nước, gió và lửa. Chỉ cần một trong bốn thứ chất liệu nầy mất cân đối thì xác thân nầy không thể tồn tại, chỉ cần sau ba ngày nếu không được chôn cất, không được thiêu hủy thì những “đồng bào” thân thương của chúng ta cũng không thiết tha gì khi phải đối diện với xác thân đang rệu rã, mặc dù trước đây cũng có người từng ái mộ cái sắc nước hương trời, cái phương phi hồng nhuận để một thời nâng niu ôm ấp!
    Tất cả sự, lý không rõ ràng ,thị phi điên đảo đó là Si .Nếu tất cả mọi người biết nhìn, biết suy nghĩ chơn chánh thì thiên hạ sẽ được hưởng thái bình.

    *MẠN.

    “Chữ Nhơn Ngã cũng là quá gắt,
    Ta chớ nên phân biệt với người…”

    Mạn chính là kiêu mạn. Phật giáo gọi là Tâm Mạn, người có tâm Mạn thường cho mình tài giỏi hơn người khác, được sinh ra từ sự phân biệt giữa ta với người, tự cho mình là người thông thái, có thể gầy dựng cho mình và cho mọi người một sự nghiệp to lớn, một khi đã có định kiến như thế ấy thì hệ quả của nó là luôn coi mình chính là người ban ơn nên đâm ra xem thường người khác, xem người khác không ra gì, từ đó cũng không thể nào chấp nhận ý tưởng của người, cho dù ý tưởng ấy đã được nhiều người đồng thuận! Một con người đã có tâm kiêu mạn như vậy hẳn chúng ta cũng thừa biết rằng cái kết cuộc của nó sẽ ra thế nào. Ngoài xã hội, chắc chúng ta cũng ít nhất một lần nghe được những lời tuyên bố “na ná” như thế nầy:
    -Cái tính của tôi là trung trực như thế đó, đừng nói là ai, thậm chí nếu kẻ ấy là cha, là mẹ tôi làm quấy thì tôi cũng không tha đâu!
    Mới nghe, nếu chưa kịp suy nghĩ thì ta có thể cho anh ta chính là một bậc hảo hán, một con người ngay thẳng đáng được ngưỡng mộ, nhưng suy nghĩ kỹ lại thì chính anh ta đã phạm một trong năm tội ngủ nghịch sẽ bị đọa vào trong địa ngục vô gián. Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa làm đầu nên chúng ta không thể chấp nhận là chơn chánh, nếu những lời được nói ra ấy xuất phát từ một con người bất hiếu, bất kính. Chúng ta thử nghĩ, người sanh ra anh ta, người nuôi lớn anh ta, bậc trưởng thượng của anh ta mà lỡ có sai lầm anh ta cũng không tha hà huống gì chúng ta. Không ai có thể cho rằng mình chưa hề lầm lỗi; Đức Phật trong một lần kể chuyện cho các em nhỏ nghe về cây bông sứ. Ngài nói:
    “Này các con ,trước khi ta được làm người, ta đã từng làm đất, đá, cây cối, chim chóc và muông thú. Các con cũng vậy. Trong những kiếp xa xưa, các con cũng đã từng làm đất, đá, cây cối, chim muông. Ngày hôm nay ta được gặp các con cũng có thể là vì trong những kiếp trước ta và các con đã từng gặp nhau. Chúng ta đã có thể làm cho nhau sung sướng, chúng ta cũng đã có thể làm cho nhau đau khổ…”
    Vậy, chúng ta bất kỳ là người nào dám tự cho mình là người không hề có lỗi lầm, sai trật? Đức Thầy Bổn Sư của chúng ta há, chẳng phải đã từng răn dạy:

    “Tiên xử kỷ,hậu lai xử bỉ
    Bắt lỗi người phải xét lỗi mình
    Vậy mới là phải bực công bình
    Nẻo chánh trực của người quân tử…”

    Và:
    “Sửa trau là phận của mình
    Xưa nay lời lẽ sử kinh rõ ràng…
    …Ai ai cũng rán xét mình
    Nếu còn tánh xấu thì rinh ra ngoài…”

    Cái tính kiêu mạn nầy được sinh ra từ sự chấp mê của bản ngã. Tổ Trúc Lâm (1258-1308) trong một cuộc pháp thoại với đệ tử là Pháp Loa đã nói bài kệ Hữu cú vô cú:

    Hữu cú vô cú
    Tự cổ tự kim
    Chấp chỉ vọng nguyệt
    Bình địa lục trầm

    Nghĩa là có và không, từ xưa nay, chúng sanh chấp vào ngón tay chỉ trăng, nên bị chết chìm ngay trên đất bằng. Từ câu chấp vào bản ngã của mình nên luôn so sánh, tranh công giành đức. Một thành công nào đó của người khác, chúng ta cũng thường kéo mình vào và thậm chí còn có những suy nghĩ là nếu không có mình thì thành công ấy khó có thể hoàn mỹ được. Ngược lại khi một việc nào đó thất bại, chúng ta có phải thường tìm cách lách mình ra khỏi hậu quả ấy, mặc dầu chính ta mới là người khởi xướng và thực hành việc đó! Nên nhớ rằng thành công hoặc là thất bại còn phải có rất nhiều nhơn duyên mới được tạo thành,một mình ta không thể tạo nên một sự thành công nào, nếu một khi thất bại ta phải biết can đảm gánh lấy trach nhiệm cho dù trách nhiệm ấy chưa hẳn là do chính ta tạo nên! Có được thái độ như vậy chúng ta mới hy vọng giữ được một tâm thái bình tỉnh và an ổn để khống chế tâm kiêu mạn.
    Từ ngữ của Phật giáo có danh từ Tàm Quý. Tàm là tự hổ thẹn với mình, quý là tự biết hổ thẹn với người. Tàm là hổ thẹn với người trên, quý là hổ thẹn với người dưới. Tàm là tự mình hối lỗi, quý là khuyến khích người khác hối lỗi. Tàm là tự mình làm các điều thiện, quý là tán đồng người khác làm các điều thiện. Tàm là tự xấu hổ bên trong, quý là thể hiện sự hổ thẹn bên ngoài với người…Tàm quý mang nhiều ý nghĩa bao quát như thế nên tàm quý có công năng chuyển hóa tâm kiêu mạn.

    Một đức tính khác cũng rất có hiệu quả khi nó hiện hành và cũng chính là khắc tinh của tâm kiêu mạn. Đó là đức tính Khiêm hạ. Khi san định Kinh Dịch, Khổng Tử rất trân trọng quẻ Khiêm (Sơn Địa Khiêm) Thầy Tăng Sâm có câu nói: “Hữu,nhược vô,thực,nhược hư ,dĩ đa vấn ư quả, dĩ năng vấn ư bất năng” nghĩa là: Mình có mà xem như mình không. Mình đầy đủ mà xem như mình thiếu kém. Lấy mình là trí thức nhiều, mà chịu hỏi với người ít; lấy mình là người tài năng, mà chịu hỏi với người bất năng. (Chu Dịch-Phan Sào Nam)
    Cũng trong Kinh Thư khen vua Vũ có câu rằng: “Nhữ duy bất căng, thiên hạ mạc dữ nhữ tranh năng; nhữ duy bất phạt, thiên hạ mạc dữ nhữ tranh công” Nghĩa là: Duy mày chẳng khoe tài mày, nên thiên hạ chẳng ai tranh tài với mày; duy mày chẳng lòe công mày, nên thiên hạ chẳng ai tranh công với mày.
    Như vậy, một người luôn giữ gìn được hai đức tính nầy thì tâm kiêu mạn không còn có cơ hội phát triển, trên đường tu tập thậm chí cả trên bước đường đời dễ thu hoạch được nhiều thành quả hơn!

    (Hết phần I)
     
  2. Tamtran

    Tamtran Administrator

    PHẦN II

    * NẮM.
    ĐỨC THẦY TRONG THI VĂN GIÁO lý PGHH đã yêu cầu người tu học chúng ta, trước hết là phải:

    Nhìn Phật Giáo mà tìm cái Lý,
    Coi tại sao ta phải tu hành…”

    Đi tìm cái Lý là đi tìm cái Chân, tìm cái như thị mà bậc Đạo sư đã chứng thật bằng chính cuộc đời y như chúng ta. Một cuộc đời có đầy đủ thất tình, lục dục.Có cha mẹ sinh ra, có vợ, có con, có đầy đủ các nổi khổ niềm vui tạm bợ ở cõi thế gian. Cái Lý mà Thế Tôn đã thực nghiệm và thành công, Ngài đã chỉ ra rằng sống trên đời là phải khổ, cái khổ được tạo thành do những nguyên nhân có thể nhận ra được nên chúng cũng có thể diệt được. Nguyên nhân của khổ diệt được, thì nổi khổ đau trên cõi đời nầy tất nhiên cũng có thể diệt được, nếu mà mọi người chúng ta biết ứng dụng đúng đắn như Đức Phật đã từng ứng dụng đạt thành .
    Đức Thầy cũng từng minh định: Ta là đệ tử trung thành của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni…” Chúng ta đã là môn đồ của Thầy, vậy thì chúng ta phải tu tập theo nguồn cội Giáo pháp nào? Chúng ta có thể tu tập mà không theo con đường của bậc Đạo Sư đã thực nghiệm và chỉ nẻo hay sao? Con đường ấy như là một tấm bản đồ, như là một chiếc la bàn quý báu để chúng ta có thể quay về! Chúng ta dù không quá bi quan nhưng chúng ta cũng không thể không biết rằng mình chỉ là một kẻ lang thang, lạc lối trong trùng trùng đường đi nẻo về, là một kẻ đang chơi vơi, bập bềnh trên sóng nước đại dương bao la mù mịt …Cái mà chúng ta phải “bán mạng” để NẮM nếu không phải là tấm bản đồ, là chiếc la bàn thì NẮM cái gì?
    Chúng ta những chúng sanh trong thời đại mà đạo đức đang suy đồi, con người đang đắm say theo vật dục lợi danh và sự quyến rũ mãnh liệt với những thành tựu vượt bậc của các ngành khoa học tiện ích… May mắn thay chúng ta vẫn còn nắm giữ được tấm bản đồ chỉ đường và chiếc la bàn định hướng của bậc Đạo sư. Nhưng cũng bất hạnh thay bởi chúng ta chưa chịu khởi hành, chưa chịu áp dụng những điều đã được chỉ dạy, hoặc có khởi hành mà chưa có sự quyết tâm lớn nên biến cuộc hành trình chỉ là một cuộc dạo chơi không có định hướng và cũng chưa xác định được nơi cần phải đến!
    Khi Thái tử Sĩ Đạt Ta quyết định rời bỏ cung vàng điện ngọc để ra đi, mặc dầu bốn cửa thành Ca Tỳ La Vệ ngày đêm lúc nào cũng được hàng ngàn người lính túc trực gát canh theo lệnh của vua cha Tịnh Phạn. Sự quyết tâm của của Thái tử khi vừa đến bờ sông Anoma chính là việc cắt bỏ mái tóc và phát nguyện: “Tôi cắt bỏ mớ tóc nầy để phát nguyện đoạn hết phiền não và tập chướng” và nhờ người hầu cận Xa-Nặc tấu trình với vua: “Tâu Bệ hạ, đối với các sự tôn vinh, quyền thế và lạc thú ở đời, Thái tử không nghĩ đến, không mong muốn, cũng không cầu xin lên các cõi trời để hưởng năm món dục lạc, và cũng không phải bất hiếu, giận hờn, mà chính vì thấy chúng sanh lầm đường lạc nẻo ,không biết con đường chính, chìm nổi trong vòng sinh tử luân hồi nên Thái tử nguyện xuất gia để tìm phương pháp giải cứu cho họ…
    Trên con đường đi tìm về bến giác, Thái tử không được một sự dẫn dắt nào, Ngài đã đi bằng những bước chân bạt mạng với một thân thể chỉ còn có da bọc xương. Dù thân xác có mõi mòn nhưng ý chí phấn đấu của Ngài thật vô cùng dũng mãnh, nên sau khi thọ nhận bát sửa của hai cô bé chăn bò Nanda và Bala. Trở lại gốc cây Bồ đề ngồi trên bồ đoàn kết bằng cỏ sắc (kusha) do chú bé Cát Tường (Sotthiya Svastika) 9 tuổi dâng cúng. Thái tử một lần nữa hạ quyết tâm: “Hôm nay, tôi vì chúng sanh đau khổ, nguyện ngồi dưới gốc cây này cho đến khi chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nếu chưa toại nguyện thì dù tan xương nát thịt quyết không đứng lên…”
    Sau 49 ngày an vui Thiền định, Thái tử Sĩ Đạt Ta giờ đã chứng đắc được ngôi vị Chánh Đằng Chánh Giác, trở thành Đức Phật Thich Ca Mâu Ni và Ngài đã chính thức chuyển bánh xe Chánh pháp. Từ Bạt Kỳ (Vajji) đến Vương Xá (Rajagriha) và sau cùng đến Kusinagar Thế Tôn đã đưa ra 84 ngàn pháp tu để điều trị cho 84 ngàn căn bệnh phiền não của chúng sanh. Về sau, nhân vì thấy căn tánh của chúng sanh quá mê mờ nên Di Lặc Bồ Tát lập ra bộ “Luận Du Già Sư Địa”(Yochararyabhumi Shastra) rút gọn lại còn 660 pháp. Nhưng 660 pháp vẫn còn quá nhiều nên Ngài Thiên Thân Bồ Tát chọn ra phần cương lãnh tối trọng yếu tạo ra bộ “Bách Pháp Minh Môn luận” còn có 100 pháp đơn giản rõ ràng. Cho dù có 84 ngàn pháp hay 100 pháp thì đại cương kinh điển Phật Giáo cũng chỉ quy về 5 tông: Luật tông, Giáo tông, Thiền tông, Mật tông và Tịnh độ tông. Luật là căn bản Phật pháp, nghiêm giữ tịnh giới để tam nghiệp được thanh tịnh, ngủ uẩn đều không, bổn lai tròn sáng. Giáo là y theo giáo mà tu tập, buông bỏ hiện tướng tỷ như lìa ngón tay chỉ trăng mới thấy được Mặt trăng. Mật thì lấy tam mật gia trì chuyển từ thức sang thành trí gọi là tức thân thành Phật. Ba tông Luật Giáo Mật dựa trên phương pháp tu tập vì khí phận giống nhau nên cũng có thể thu nhiếp về Thiền tông. Như vậy, cuối cùng con đường đi về Tịch tịnh chỉ còn 2 nẻo Thiền tông và Tịnh độ tông.
    Thiền thì dựa vào tự lực, nếu chẳng phải là người có căn tánh linh mẫn thì khó bề tu chứng được. Tịnh thì nhờ vào tự lực và gồm nhờ cả Phật lực, người nào đầy đủ tín nguyện hạnh đều có thể đới nghiệp vãng sanh (cùng với nghiệp vãng sanh).Thiền tông chính là pháp tánh tông thuộc về lý, còn Tịnh độ tông là pháp tướng tông thuộc về sự. Thiền tông từ cửa KHÔNG mà vào, Tịnh độ tông từ cửa CÓ mà vào. Chữ KHÔNG không chỉ là triết lý cơ bản của Phật đạo mà chữ KHÔNG nầy cũng chính là nền tảng cho mọi tôn giáo và các triết thuyết chân chính khác. Chúa Giê Su từng bảo: “Các người hãy đánh mất sự sống của các người,thì các người sẽ được sự sống đời đời” Khổng Phu Tử cũng từng dạy: “Vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã,…”
    Tóm lại, không thể nào chỉ có KHÔNG mà không hề , chúng ta càng CHÂN KHÔNG bao nhiêu thì chúng ta càng DIỆU HỮU bấy nhiêu, càng KHÔNG thì càng . Thiền sư Hương Hải sống vào thời cận đại (Hậu Lê) của Việt Nam ta có một bài kệ trứ danh:

    Tầm ngưu tu phỏng tích
    Học Đạo quý Vô Tâm
    Tích tại ngưu hoàn tại
    Vô Tâm đạo dị tầm

    Nghĩa là:
    Tìm trâu tìm dấu chân trâu,
    Dấu còn trâu chẳng mất đâu bao giờ.
    Những người học Đạo chớ ngờ,
    Vô Tâm thì Đạo có cơ dễ tầm

    Hiểu rõ như vậy, nhưng chúng ta cũng phải biết thêm về bài kệ “Tứ Liệu Giản” của Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ vì Ngài sợ chỗ khó dễ của hai Tông Thiền Tịnh, nếu nhìn trên sự thì cách nhau một trời một vực.

    Có Thiền có Tịnh độ
    Như hổ mọc thêm sừng
    Đời nay làm Thầy người
    Đời sau làm Phật Tổ

    Không Thiền có Tịnh độ
    Muôn Tu muôn vãng sinh
    Nếu được thấy Di Đà
    Lo gì chẳng khai ngộ

    Có Thiền không Tịnh độ
    Mười người chín chần chờ
    Cảnh Trung ấm hiện ra
    Liền lần đi theo nó

    Không Thiền không Tịnh độ
    Giường sắt và cột đồng
    Muôn kiếp cùng ngàn người
    Không một ai nương tựa.

    Toàn bộ bài giản nầy chỉ gồm 80 chữ nhưng chính là cương yếu, là khuôn vàng cho người tu tập chúng ta. Thiền và Tịnh là nói theo lý, theo giáo thì hai pháp này không khác. Nếu nói theo cơ, theo hành trì thì hai pháp khác nhau!
    Thiền tông tức là làm cho Chân như Phật tánh của chúng ta hiển lộ, tức là tìm về cái Bổn lai diện mục trước khi cha mẹ chưa sinh ra, pháp tu Thiền chẳng nói thẳng, chỉ tạo nghi tình khiến người tham thiền tự mình được Ngộ, thật ra không có năng sở (người tham và đối tượng bị tham), ly niệm linh tri, tức tịch, tức chiếu không có chút suy nghĩ phân biệt mà vẫn thấu rõ cảnh giới trước mắt.
    Tịnh độ tức là Tín, Nguyện và Hành (chấp trì danh hiệu Đức Phật A Di Đà,cầu sanh quốc độ Tây Phương Cực Lạc) Chẳng kể kẻ thượng trung hạ căn, chẳng kể người ngủ nghịch nếu nhất tâm tin sâu, nguyện thiết,hành thâm đến lúc lâm chung được Phật A Di Đà cùng Thánh chúng tiếp dẫn về Tây Phương. Đã sinh về Tây phương, thấy Phật nghe pháp tùy theo căn tánh cạn sâu mà chậm mau chứng các quả vị, không lo thối chuyển nữa. Đây không phải là nói về Duy tâm tịnh độ và Tự tánh Di Đà mà phân biện…
    Dù Thiền tông hay Tịnh độ hoặc nhiều pháp tu chân chính nào đi nữa đều quy vào một đầu mối là Sáng cái Tâm. Cái tâm muốn được sáng thì trước hết tâm phải được thanh tịnh. Khi chúng ta khởi lên một niệm thì chúng ta cũng phải tức khắc biết rằng: Mình đã gieo vào Tâm điền A Lại Gia thức một hạt giống. Xấu, tốt, thiện, ác… chính mình sẽ thọ lảnh bởi hạt giống gì sẽ trổ ra quả ấy khi mọi điều kiện ắt có và đủ đã chín muồi.
    Đức Thầy cũng thường chỉ rõ:

    Địa ngục cũng tại tâm làm quấy,
    Về thiên đàng tâm ấy tạo ra.
    Cái chữ Tâm là quỷ hay ma,
    Tiên hay Phật cũng là tại nó.
    Tu với tĩnh biết làm chẳng khó,
    Nếu lặng Tâm tỏ ngộ đạo mầu…

    (Giác Mê Tâm Kệ)

    Sách Minh Tâm Bảo Giám cũng có câu:
    Tam điểm như tinh tượng
    Hoành câu tợ nguyệt tà
    Phi mao tòng thử đắc
    Tố Phật giã do tha.

    Nghĩa là:
    Ba chấm như hình sao
    Nét ngang cong trăng tà
    Mang lông theo đây có
    Làm Phật bởi đây ra.

    Sở dĩ chúng ta phải đi một vòng lớn như vậy, dù chưa nói cạn hết ý tình nhưng cũng xác định được cho người tu tập chúng ta, cần phải NẮM cái gì? Cần phải tu tập theo pháp nào để đạt được thành quả lớn nhất!
    Đến đây chắc hẳn chúng ta, tất cũng thừa biết rằng cái mà chúng ta cần phải NẮM là cái gì, nếu cái đó không phải là cái Tâm. Và cái pháp tu tập trong thời kỳ lửa cháy trên đầu, của hạng phàm phu phước mỏng, tội dầy như chúng ta đây, nhất thiết phải cấp cấp hành trì NẮM GIỮ ngoài pháp tu Tịnh độ thì còn pháp môn nào nữa?

    *NẮM CÁI TÂM.

    Quán Kinh nói: “Tâm này làm Phật,Tâm này là Phật”. Cũng có nghĩa là một khi Tâm không khởi làm Phật, thì Tâm không phải là Phật. Hai câu nầy chính là giềng mối, là Tông chỉ chủ yếu của tất cả chư Phật, chư Pháp tiếp nối mà truyền thừa. Ai cũng phải nắm lấy cái Tâm bởi NÓ LÀ TẤT CẢ. Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma trong bài thuyết trước Vua Lương Võ Đế cũng đã từng nói rằng: “Đó là thực thể của pháp thân này đã có từ vĩnh cửu. Trải qua những luân hồi thăng trầm của những kiếp, nó vẫn không sinh không diệt. Không thêm không bớt, không dơ không nhiểm và không phải tự tẩy sạch. Không yêu không ghét không đến không đi, không đàn ông không đàn bà, không già không trẻ, không tu không tục. Nó không một mà cũng không nhiều, không thánh không phàm. Nó không hình tướng. không quang năng, không được không mất. Nó đi vào tất cả và không có gì ngăn cản trở ngại. Nó thung dung trong những kiếp kế tiếp, trong vòng sinh tử.
    Tất cả chúng sanh và vận mạng của chúng sanh đều quy về NÓ. Chính NÓ mà ta gọi là TÂM (Đừng lộn với trái tim bằng thịt). Chính pháp thân này mà ta phải ngó nơi mình. Ta phải di động và hành động trong ánh sáng của TÂM…”
    (Trích từ: Histoire des Croyances religieuses et des opinions Philosophiques en Chine depuis l’origine jusqu’ à nos jours)
    Phải, chính nó là tất cả, là quan yếu bậc nhất trong cuộc đời tu tập của mỗi chúng ta. Chúng ta phải làm thế nào để dắt mũi được nó như người chăn trâu, dắt được trâu về chuồng…Cũng chính Tổ Đạt Ma trong sách đã dẫn cũng dạy rằng: “Kiến tánh là một hành động giản dị, bởi vì sự Kiến tánh không gồm những thành phần một.
    Sự Kiến tánh gống như một món đồ ăn, cũng giản dị và lập tức như thế. Người ta không bao giờ thuyết lý viễn vong chung quanh sự nuốt đồ ăn ấy. Ta chỉ biết NUỐT hay không NUỐT .Chỉ có thế thôi…”

    Nếu một khi chúng ta đã thực tập biết buông xả là chúng ta cũng đã biết NUỐT. Chúng ta đã từng buông xả Tham, Sân, Si, Mạn Nghi, đã biết buông bỏ cái tướng trạng, việc dán lên trán mình hai chữ phàm phu không có nghĩa là chúng ta sẽ mãi mãi là phàm phu mà phương pháp đối trị nầy là để trừ cái Tâm Kiêu Mạn. Nói gần thì chúng ta cũng phải biết rằng dù ta là phàm phu thì ta vẫn có thể vãng sanh vào quốc độ của Đức Phật A Di Đà, ta vẫn có khả năng tu tập tới nơi tới chốn…Cần phải không có cái tâm phân biệt thì mới trừ nổi ngã tướng, còn chấp chặt vào cái “tôi” thì ngã tướng không thể buông xuống được. Tướng trạng tốt thì cũng mĩm cười, tướng trạng xấu thì cũng mĩm cười, sở dỉ có cái nầy tốt, cái kia xấu đều do tâm phân biệt đặt bày ra.
    Người muốn nắm giữ được cái Tâm, tất phải chấp nhận trải qua gian khổ, xưa nay chưa từng có một người nào đi tìm CHÂN LÝ, người muốn NẮM CÁI TÂM xưa cũ có từ uyên nguyên, mà không phải trải qua gian khổ, có gian khổ mới có thể khai ngộ. Không nên hy vọng mọi người sẽ tốt với ta, mà chính chúng ta phải có một thái độ thành khẩn, chấp nhận mọi tình huống xấu sẽ đến với mình. Như đã nói Tai của ta thích nghe lời êm dịu, muốn nắm được cái Tâm ta cần phải tự tại, nghĩa là đừng để cái Tâm dính vào lời phê bình thị phi, chúng ta phải tự biết rằng có được những lời phê phán ấy chính là những phước báo hiện tiền, giúp cho ta được thường xuyên tu tập. Một khi công năng tu tập của mình đạt được cảnh giới chánh niệm, lòng trong, ý sáng tỏ thì lời tốt chỉ là gió thoảng qua tai, lời xấu chính là người Thầy giúp ta tu hành. Ngày xưa khi Đức Phật còn tại thế, Phật có đưa ra phương pháp đi khất thực, một trong các phương ấy có phương Thứ đệ, buộc tăng ni phải khởi đi từ nhà này sang nhà khác, không được bỏ xót một nhà nào nằm trên lộ trình khất thực, cho dù nhà ấy có hoan hỉ cúng dường hay không, cho dù nhà ấy giàu có hay túng thiếu bần hàn, cho dù gia chủ có đạo đức,có nhã nhặn hay hung dữ tục tằng…Điều đó nếu không phải là một phương pháp tu tập cái NGHE thì là cái gì?
    Khi mở miệng chúng ta phải biết cảnh giác đừng để tập khí phàm phu, nói nhăng nói cuội mà chúng ta đã từ lâu gieo trồng. Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau - người xưa đã dạy ta như vậy. Nên nhớ nói vừa lòng nhau không có nghĩa là nói hùa theo, nói LẤY lòng bất chấp đúng sai. Điều gì khi nói ra mà tạo cho người phiền não thì tốt hơn hết là không nên nói, hãy ghi nhớ lời dạy của chư tổ sư: bớt một câu chuyện, thêm một câu niệm Phật” vậy thì nhiều chuyện tốt hay niệm Phật tốt hơn!
    Đức Thầy đã dạy dỗ người tu tập chúng ta điều nầy:

    Ác nơi khẩu nhứt là Lưỡng- Thiệt.
    Với người nầy dùng lời tha thiết,
    Đến kẻ kia đâm thọc cho gây.
    Khá chừa đi hương đảng bớt rầy,
    Dùng sự thiệt tỏ bày tâm trí.
    Người choảng nhau tại mình gia vị,
    Mà cũng không hưởng được lợi danh.
    Sau hiểu ra chúng lại ghét ganh,
    Chiêu quả cảm bất lành thêm nữa.
    Ác thứ nhì Ỷ-Ngôn chất chứa,
    Đợi cho người lầm lỗi xéo giày.
    Của tiền nhiều tự phụ rằng hay,
    Chủ ỷ thế nhiếc xài kẻ dưới.
    Lắt léo chi chỉ ba tất lưỡi,
    Quan ỷ khôn mạt sát dân ngu.
    Nghèo ỷ lanh láo xược lu bù,
    Ôi!Thấy thế lòng đau tợ cắt.
    Khuyên bá tánh giữ gìn cho chặt,
    Đừng để cho quỉ dắt đường cong.
    Dùng từ ngôn nói tận đáy lòng,
    Dầu trên dưới cũng không mấy khác.
    Chúng vô phước đời nầy dốt nát,
    Người khôn ngoan chỉ dẫn mới là.
    Lời trang nghiêm êm ái thốt ra,
    Đừng bao biếm mới là nhơn thiện.
    Tới Ác-Khẩu thứ ba bày biện,
    Tiếng tục tằng thô lỗ hung hăng.
    Nào chưởi cha,mắng mẹ lăng xăng,
    Chẳng kể đến luân thường,thảo hiếu.
    Ham đánh giết những người hèn yếu,
    Hiếp xóm chòm cô bác chẳng kiêng.
    Trong gia đình chưởi rủa liên miên,
    Hết dương thế kêu sang thần thánh.
    Chẳng kiêng nể Phật Trời thượng cảnh,
    Cõi Long Cung mời thỉnh tối ngày.
    Đời ám u tội trạng thảm thay,
    Khuyên bá tánh bá gia rán bỏ.
    Gương Tổ Phụ còn roi lại đó,
    Sao không theo nề nếp gia phong.
    Chư Thánh Thần đâu có mích lòng,
    Mà kêu réo Đông,Tây,Nam,Bắc?
    Mấy câu trên toàn là ròng rặc,
    Những đàn bà khe khắt cháu con.
    Kể từ nay phải giữ cho tròn,
    Không chừa dứt ắt mang tai ách.
    Lựa lời tiếng dịu dàng trong sạch,
    Khi thốt ra đoan chánh hiền từ.
    Tích Thiện thì thường có phước dư,
    Bằng tích ác họa ương đeo đắm.
    Ác Vọng-Ngữ thứ tư cũng cấm,
    Nói thêm thừa huyễn hoặc đủ điều.
    Ghét người thời kiếm chuyện dệt thêu,
    Thương viện lẽ thấp cao bào chữa.
    Đời bất công mấy ai xem sửa!
    Trên điêu ngoa dưới chẳng phục tòng,
    Khuyên nhơn sanh lấy lẽ chí công,
    Mà ăn ở nói năng chơn chất.
    Phật từ bi độ trong nhơn vật,
    Là luật kinh dạy rất tinh tường.
    Nếu chẳng nghe hồn vướng tai ương,
    Chừng ấy mới kêu mời khó rước.
    Người dương thế chẳng ưa bốc xước,
    Phật Thần nào gần kẻ xảo ngôn.
    Đã tu hành đừng có bôn chôn,
    Tưởng hay giỏi khoe khoang tài cán.
    Người hiểu rành mới càng thêm chán,
    Chi bằng ta bỏ lối trớ trêu.
    Nói với ai cũng phải lựa điều,
    Đừng tráo chác cho người khinh dễ.

    (Sấm Giảng Thi Văn—Khuyến Thiện)

    Chỉ có cái miệng mà Thầy đã nhìn ra đến bốn cái ác: Lưỡng thiệt, Ỷ ngôn, Ác khẩu, Vọng ngữ. Bốn cái ác nầy đã tạo cho ta không biết bao nhiêu là phiền não, chúng là ngọn sóng ba đào xô úp con thuyền tu đạo của ta.
    Thử quán xét các bộ phận mà Tạo hóa đã an bày trên khuôn mặt của mình; chỉ một việc nhìn mà Tạo hóa phải “thiết kế” đến 2 con mắt, nghe phải đến 2 lổ tai, thở cũng đến 2 lổ mũi, nhưng tại sao chỉ có một “lổ miệng” mà vừa ăn, vừa uống, vừa thở, vừa nói, vừa cười…Tại sao vậy? Có phải chăng Người Tạo hóa muốn nói với chúng ta, muốn ngăn cản chúng ta là không nên nói nhiều! Thế mà hễ trăm việc lộn xộn trên đời này xảy ra thì hết trăm chuyện do cái miệng gây ra. Há không phải là một công án đáng để cho người tu tập chúng ta tham cứu?
    Càng ít nói bao nhiêu là chúng ta càng làm sáng cái Tâm bấy nhiêu, càng giữ được cái Tâm bấy nhiêu!

    *NẮM PHƯƠNG PHÁP.

    Trong các phương pháp tu hành, pháp môn niệm Phật là con đường tắt nhất, và trong các phương pháp niệm Phật giải thoát, phương pháp trì niệm hồng danh A Di Đà Phật cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc là dễ dàng nhấtHầu hết chư Tổ Tịnh Độ tông đều dạy bảo chúng ta như vậy. Đức Thầy trong Giáo lý Phật Giáo Hòa Hảo cũng dạy rằng:

    “Lòng thương chúng thuyết phương Tịnh độ,
    Đặng dắt dìu tất cả chúng sanh.
    Nếu như ai cố chí làm lành,
    Chuyên niệm Phật cầu sanh Phật quốc.
    Cả vũ trụ khắp cùng vạn vật,
    Dầu Tiên,Phàm,Ma,Quỉ,Súc sanh.
    Cứ nhứt tâm tín,nguyện,phụng hành,
    Được cứu cánh về nơi an dưỡng.
    Chỉ một kiếp Tây Phương hồi hướng,
    Thoát mê đồ dứt cuộc luân hồi…”

    Và:
    “Môn Tịnh Độ là phương cứu cánh,
    Rán phụng hành kẻo phụ Phật xưa…”

    Người tu tập chúng ta không theo lời dạy bảo của Chư vị Tổ sư, của Đức Thầy thì nghe theo lời dạy bảo của ai nữa! Vậy, cái pháp môn mà ta phải hành trì, phải NẮM chính là pháp môn Tịnh Độ. Phương pháp phải NẮM chính là phương pháp Trì niệm Hồng Danh Đức Phật A Di Đà.

    *PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ.

    Vào hạ thứ 38 năm 552 trước Tây lịch. Sau khi đức Phật chỉ dạy cho Thái hậu Vi Đề Hi cách cầu vãng sanh về Cực Lạc. Tại vườn trưởng giả Cấp Cô Độc, thành Xá Vệ, Thượng tọa Xá Lợi Phất nhận thấy đây là một pháp môn tu có thể thích hợp với căn tánh và sự mong ước của nhiều người ở cõi Ta bà, nên Thượng tọa cầu xin Thế tôn hoan hỷ chỉ dạy rõ ràng về pháp môn vi diệu nầy.
    Sau khi ngợi khen Thượng tọa Xá Lợi Phất vì lợi ích của chúng sanh mà thưa hỏi đúng lúc. Đức Phật dạy:
    “Này Xá Lợi Phất, ở Phương tây, cách đây mười muôn ức cõi Phật, có một thế giới tên là Cực Lạc, Nơi đó có một vị Phật hiệu là A Di Đà đang thuyết pháp. Sở dĩ thế giới đó có tên Cực Lạc là vì nơi đó chúng sanh không hề bị khổ não mà thường được an lạc.
    Này Xá Lợi Phất, ở cõi Cực Lạc đầy dẫy những vật quý giá, cây cối, đất đai,đồi núi, sông rạch, nhà cửa đều bằng vàng bạc châu báu. Hoa sen to bằng bánh xe, đủ màu xanh vàng đỏ trắng, phát ra hào quang sáng rỡ và mùi hương thơm ngát. Thường có các loài chim quý hót ca hòa với tiếng gió động cành cây phát ra những điệu nhạc vi diệu làm cho chúng sanh nơi đó được tinh thần sảng khoái, phát Bồ đề tâm, thâm nhập Chánh Pháp, luôn nghĩ đến Phật ,Pháp, Tăng .Do đó, ở cõi Cực Lạc, chúng sanh không hề có ý niệm về ba ác đạo, trái lại có đầy đủ môi trường thuận lợi để thành tựu các công đức trang nghiêm. Hơn nữa, chúng sanh nơi cõi Cực Lạc đều do hoa sen hóa sanh, nên thân tâm đều thanh tịnh, không có nam nữ, không có ái dục.
    Này Xá Lợi Phất, sở dĩ đức Phật cõi Cực Lạc có hiệu là A Di Đà (Amita=Vô lượng) là vì đức Phật đó phát ra vô số hào quang chiếu khắp mười phương không hề bị chướng ngại, do đó nên có hiệu là Amitabha (Vô Lượng Quang). Đức Phật lại có hiệu là Amitayus (Vô Lượng Thọ) vì thọ mạng của Ngài, cũng như của nhân dân nơi đó, dài vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp.
    Này Xá Lợi Phất, như có thiện nam tín nữ nào nghe nói đến đức Phật A Di Đà liền phát tín tâm kiên cố, một lòng chí thành chấp trì danh hiệu một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày đến lúc sắp mạng chung vẫn thành kính niệm danh hiệu Ngài, thì đức Phật A Di Đà và thánh chúng nhất định sẽ có mặt để tiếp rước người đó về cõi Cực Lạc…”

    Thế giới Cực lạc vì sao lại gọi là Tịnh Độ? Tịnh là thanh tịnh, là sự vắng lặng trong sạch tinh khôi. Độ là cõi, là bến. Tịnh Độ là cõi, là bến trong sạch tinh khôi, là thế giới thanh tịnh.Thế giới Tịnh Độ chính thật là một cõi lý tưởng nhất, người nào được sanh về thân tâm họ cũng đều thanh tịnh: Thân không có những hành vi sát sanh, đạo tặc, dâm dục và vọng tưởng. Tâm không có các ý niệm tham, sân, si, mạn, nghi. Cả ngày đều hành Phật pháp, đều nghĩ Phật pháp, Xa lìa được tất cả những tạp nhiễm bởi vì ở đây hoàn toàn vắng bặt các sự nhiễu loạn của phiền não, đêm ngày tiếng chim hót, tiếng gió thoảng đều là các thời thuyết pháp, không còn nỗi lo về sinh tử, về phong vũ bất kỳ, không còn cái lo về cái ăn, cái mặc…Cõi nầy chính là cõi tịnh hóa nhân sinh, nên gọi là Tịnh Độ!

    Chính vì vậy, theo lời dạy của Thế tôn, của các vị Tổ, của Đức Thầy người tu tập chúng ta nhất định phải cầu sanh về, phải bước được lên bến bờ Tịnh Độ. Muốn đến được nơi cần phải đến, chúng ta nhất thiết phải chuẩn bị chu đáo những hành trang cho cuộc hành trình cắt đứt mọi ràng buộc, trì niếu ta mãi mãi luân hồi. Nói thì như vậy, chứ thực ra ta không cần phải mang vác cồng kềnh, nặng nhọc gì cho lắm bởi vì như đã nói, trước khi lên đường về quê hương cực lạc, ta đã thực tập BUÔNG XẢ, nên chúng ta sẽ rất nhẹ nhàng, chỉ còn lại ba thứ lương thực cất chứa sẳn trong Tâm của mỗi người. Đó là Tín, Nguyện và Hạnh. Tín phải thật sâu nặng, Nguyện phải thật thiết tha, Hạnh phải thâm trầm kiên cố.

    *TÍN.

    Tín tức là lòng tin,đức tin, là mẹ đẻ mọi sự thành công trong đời sống xã hội, cũng như trong đời sống tâm linh của người tu tập. Làm bất cứ chuyện gì mà không có lòng tin thì xem như chuyện đó không thể nào thành tựu được. Lòng tin trong đời sống xã hội có ba yếu tố là tin mình, tin người,tin phương pháp thực hiện. Trong đời sống tâm linh tu tập pháp môn Tịnh Độ cũng phải có ba thành phần nầy: Tin Tâm mình, tin Phật Độ, tin Pháp môn.

    A. Tin Tâm mình.

    Khi từ giả mẫu thân, Huệ Năng đến ngay Phùng Mộ Sơn ở huyện Hoàng Mai bái lạy Ngủ Tổ Hoằng Nhẫn. Ngủ Tổ hỏi Huệ Năng:
    -Ngươi là người phương nào mà đến đây bái lạy ta? Nay ngươi đến đây với mục đích cầu cái gì vậy?
    Huệ Năng đáp:
    -Đệ tử là người Lĩnh Nam, vốn chỉ là một tên thường dân ở Tân Châu. Nay lặn lội từ phương xa đến bái lạy Hòa thượng không để cầu vật gì khác, mà chỉ cầu Phật pháp thôi.
    Đại sư bèn quở Huệ Năng:
    -Ngươi là dân Lĩnh Nam, vốn là đồ mọi rợ, làm thế nào mà thành Phật cho được?
    Huệ Năng nói:
    -Con người tuy có Nam Bắc, Phật tánh chẳng có Bắc Nam. Tuy thân mọi rợ này không giống với thân Hòa thượng. Phật tánh trong chúng ta có gì là sai biệt?

    Y cứ vào thông điệp nầy của Ngài Lục tổ, sau khi đắc được Pháp và được Ngủ tổ mật truyền y bát, Ngài lại một lần nữa xác định: “Nào dè tâm ta (chúng sanh) cũng có đầy đủ mọi thứ giống như tâm Phật”. Điều nầy cũng đã được Đức Thầy nhắc lại sau khi Thế tôn thành Đạo:

    “Ngài bèn xét ở trong Phật chủng,
    Các chúng sanh đều có như ta.
    Bị vô minh vọng tưởng vạy tà,
    Nên quây lộn ta bà cõi khổ…”

    Vậy thì chúng ta phải tin chắc chắn vào bổn tâm của mình chính là Chơn tánh, cho nên chính mình vốn đầy đủ Phật tánh, xưa nay chưa hề sinh diệt, không có khởi đầu tất sẽ không có kết thúc! Tâm của mỗi con người tiếp nối và hằng hiện hữu hoặc ẩn tàng, tất cả mọi cái đều tùy thuộc vào DUYÊN mà biến hiện. Chỉ vì nghiệp lực nên ta có thân này, và một khi thân này có thì các nghiệp mới lại được tạo nên dù lành dù ác…Cứ như thế mà chúng ta tiếp nối trôi lăn trong tam đồ khổ. Nhắc lại chuyện cây bông sứ do Thế tôn kể lại ta thấy được là: “trước khi ta được làm người, ta đã từng làm đất đá, cây cối, chim chóc và muông thú…Ngày hôm nay ta được gặp các con cũng có thể là trong những kiếp trước ta và các con đã từng gặp nhau. Chúng ta đã có thể làm cho nhau sung sướng, chúng ta cũng có thể làm cho nhau đau khổ”
    Vậy thì tại sao ta không có được một niềm tin tưởng sâu chắc và bền chặt là ta có khả năng về đến nơi đến chốn quê hương cực lạc nếu mỗi chúng ta biết thực hành cật lực cái phương pháp đi về do Chư tổ, do Đức Thầy chỉ dạy?
    Nên nhớ rằng niềm tin Tâm ta và Tâm Phật là không sai khác, nhưng sở dỉ có chúng sanh ta, và Phật các Ngài vì Tâm ta đầy dẩy Vô minh Phiền não còn Tâm của các Ngài trong sáng vô ưu. Muốn đạt đến cảnh giới không sai khác chúng sanh ta cần phải tu tập hết sức mình! Đừng bao giờ vọng tưởng “Ta là Phật sẽ thành” để rồi buông thả, không hạ thủ công phu.

    B.TIN LỜI PHẬT DẠY.

    Quê hương Cực lạc là do Thế tôn vì lòng từ ái xót thương nhân chủng mà chỉ ra, mà nói ra: “Này Xá Lợi Phất, bất luận nữ nam, muốn được vãng sanh, thì hãy chuyên cần, khởi lòng khát ngưỡng, nhớ nghĩ không quên, thực tập quán niệm, nhất tâm bất loạn, trong vòng một ngày, cho đến bảy ngày. Trong giờ phút này, tâm ý người ấy phải thật yên tĩnh ,như vào thiền định, không còn tán loạn, đảo điên mộng tưởng. Đến lúc qua đời, Phật A Di Đà, thánh chúng hà sa, dang tay tiếp dẫn, khiến được vãng sanh, dự hàng thánh chúng, không hề chia phân.
    Này Xá Lợi Phất, vì thấy được lợi lạc hà sa do niệm Di Đà, ta khuyên các vị, hãy nên chuyên cần, niệm Phật vãng sanh…”
    Qua lời dạy của Thế tôn, rõ ràng pháp môn niệm Phật là cao cả khôn cùng, thu nhiếp hết cả giáo môn, nếu người có đủ lòng tin chí thành niệm Phật, ngày ngày không lơi là nên hành vi trong đời sống không trái với đạo đức, không tạo nên nghiệp ác, chẳng phải thanh tịnh được cái tâm của mình trừ đi nghiệp chướng nầy rồi mới niệm Phật. Vấn đề tu tập không phải là như vậy,mà là do thường liên tục niệm Phật nên tội chướng tiêu mòn và diệt sạch.
    Sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” là tiếng phiên âm từ tiếng Phạn. Dịch nghĩa theo ngôn ngữ Việt thì Nam Mô có đến 6 nghĩa: kính lễ,quy y, phụng thờ, cứu ngã, độ ngã, quy mạng. A có nghĩa là không, vô. Di Đà có nghĩa là lượng. Chữ Phật có nghĩa là Giác giả. Nam mô A Di Đà Phật là: Quy y kính lễ đấng giác ngộ vô lượng. Theo Kinh A Di Đà Phật thì Đức Phật A Di Đà có thọ mạng vô lượng, ánh sáng hào quang của Ngài phóng ra vô cùng tận, Ngài được tôn xưng là Đức Phật có Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ. Ngài là Giáo chủ của cõi Tịnh độ đã từng lập nên 48 đại nguyện lực lúc Ngài còn là vị vua có tên là Vô Tránh Niệm trước Đức Phật Bảo Tạng Vương, sau đó trải qua vô số kiếp tu hạnh Bồ Tát, Ngài chuyển sanh thành Pháp Tạng Tỳ Kheo trong thời kỳ pháp hội của Phật Thế Tự Tại Vương Như Lai. Trong 48 đại nguyện này, hai đại thệ nguyện 18 và 19 của Đức Phật A Di Đà đối với hàng tại gia cư sĩ chúng ta là thiết thân và cứu rỗi nhất!
    18- Lúc tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi, nhẫn đến mười niệm, nếu không được sanh (trừ kẻ tạo tội ngủ nghịch cùng hủy báng chánh pháp) thời tôi không ở ngôi Chánh giác.
    19- Lúc tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương phát Bồ đề tâm, tu các công đức, chí tâm phát nguyện muốn sanh về cõi nước tôi, đến lúc lâm chung, nếu tôi chẳng cùng đại chúng hiện thân trước người đó, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

    Tội ngủ nghịch, một là tội giết mẹ, hai là tội giết cha, ba là tội giết bậc A La Hán, bốn là tội làm thân Phật ra máu, năm là tội phá hòa hợp tăng. Tại sao lại gọi là nghịch? Cha mẹ sanh đẻ ra mình, có công nuôi dưỡng mình mà mình nhẫn tâm sát hại, hành vi này trái với luân thường đạo lý nên gọi là nghịch. Bậc A la Hán là người chân tu hiền từ đã chứng đắc quả vị Thánh mà mình đem cái tâm ác sát hại, Đức Phật có tấm lòng đại từ, đại bi ra đời cứu vớt chúng sanh mà mình vẫn đem lòng ám hại nên cũng gọi là nghịch tội. Những người mang ác tâm phá hủy chùa chiềng, tượng Phật cũng đồng một tội với làm cho thân Phật ra máu. Chúng tăng, những người cư sĩ đoàn tụ một nơi để tu hành, để trao đổi Phật pháp chân chánh, nếu dùng thế lực để chia rẽ, cấm đoán giải tán, hay đâm thọc thêm bớt, âm mưu dùng thủ đoạn với ý đồ gây sự bất hòa trong đoàn thể tu tập, đều là phạm phải tội nghịch phá hòa hợp tăng.
    May mắn thay chúng ta, người tu tập không ai phạm phải tội ngủ nghịch, nên chỉ cần tin ưa thệ nguyện của Phật A Di Đà là không lừa dối, hạ thủ công phu niệm danh hiệu Ngài thì chắc ta sẽ được vãng sanh về quốc độ Cực Lạc. Nếu không may, có người nào đó sa vào ngủ nghịch tội, chỉ cần phát bồ đề tâm, tạo lập nhiều công đức, lập tâm chí thành đến lúc lâm chung cũng vẫn được Đức Phật cùng chư vị Thánh chúng hiện thân tiếp dẫn.
    Ta đã có lòng tin tuyệt đối vào 48 đại thệ nguyện của vua Vô Tránh Niệm dưới sự bảo chứng của phụ tướng Bảo Hải (Đức Phật Thích Ca sau này), của Bồ tát Pháp Tạng, của Đức Phật A Di Đà. Chúng ta cần phải dốc lòng tin lời Đức Phật Thích Ca, Ngài là bậc chứng đắc Chánh Đẳng Chánh Giác về trí tuệ, thiền định, giới luật, từ bi khổ hạnh, sức mạnh thần thông còn ai có thể sánh bằng Ngài Giáo Chủ của cõi Ta bà này.Thế thì pháp mà Phật nói quyết định không sai trái, quyết định không làm lầm lạc người! Đức Phật nói, người cực ác lúc lâm chung thành tâm niệm mười Phật hiệu cũng được vãng sanh, nếu mọi người chúng ta chưa hẳn được liệt vào hàng cực ác, thường ngày lại biết trì danh thì xá gì chẳng hơn mười niệm. Nếu chẳng được vãng sanh tức là Đức Phật làm lầm lạc người, dẫn người đi sai đường lẽ nào lại có việc như vậy hay sao? Chỉ cần tin chắc thật, niệm niệm chuyên thiết, chẳng kể ngày đêm, chẳng kể đi, đứng, nằm, ngồi như lời Đức Thầy chỉ dạy, đến lúc lâm chung giữ được chánh niệm cầu vãng sanh, hoàn toàn chẳng điên đảo nhất định được vãng sanh chẳng có gì phải nghi ngờ!
    Nếu nghi ngờ sâu nặng, mặc dù lời Phật, lời Tổ, lời Thầy dạy như thế mà vẫn còn có chút hoài nghi thì bổn phận người tu chúng ta phải xét lại có phải là do nghiệp chướng đeo mang quá nặng nề, chưa buông xuống được, tức khắc phải sớm chiều sám hối để trí tuệ được hiển bày, tin chắc không nghi. Nên nhớ rằng việc hiểu được yếu chỉ lời dạy của Chư Phật, chư Tổ, của Đức Thầy chưa phải là vấn đề quyết định thành bại trên bước đường tu tập, mà vấn đề là phải biết ứng dụng những yếu chỉ ấy vào đời sống tu hành. chỉ có làm hay không mà thôi!

    C.TIN PHÁP MÔN.

    Thiết tin vào pháp môn Niệm Phật Tịnh Độ Vãng Sanh về quốc độ của Đức Phật A Di Đà là chính do Thế tôn Thích Ca Mâu Ni, vị giáo chủ của thế giới Ta bà,có Bồ tát Di Lặc, có Ngài Xá Lợi Phất, có hoàng hậu Vi Đề Hi cùng với chư Đại Bồ Tát lắng nghe và Ngài A nan phụng thừa kết tập lưu truyền cho đến ngày nay là Vô lượng Thọ Kinh, Phật thuyết A Di Đà Kinh. Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh…Lúc Đức Phật thuyết Vô Lượng Thọ Kinh thì Ngài Xá Lợi Phất, cùng các vị A La Hán, Bồ Tát Di Lặc cùng chư vị Bồ Tát khác với vô lượng không cùng chư thiên, chư tiên, nhân và phi nhân đều phát nguyện vãng sanh. Khi Phật thuyết Kinh Quán Vô Lượng Thọ, hoàng hậu Vi Đề Hi y theo pháp tu trì lập tức được vãng sanh về Cực Lạc.Khi Phật thuyết Kinh A Di Đà, vô số quốc độ Phật sáu phương Đông Tây Nam Bắc, phương trên và phương dưới, Phật A Súc cùng vô lượng Chư Phật đều khen ngợi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong thế giới Ta Bà ngủ trược này mà khéo nói pháp môn thù thắng .
    Thiết tin vào pháp môn Niệm Phật Vãng Sanh Tịnh Độ từ hàng Đẳng giác Bồ Tát cho đến hạng chúng sanh cùng hung, cực ác từ mang tội Ngủ nghịch đến phạm vào mười điều ác như sát sinh, trộm cắp, tà dâm, lưỡng thiệt, ỷ ngôn, ác khẩu, vọng ngữ xảo ngôn, tham lam, sân hận, si mê. Khi tin nghe Pháp môn này phát nguyện tu hành cũng được vãng sanh.
    Thiết tin vào pháp môn Niệm Phật, nếu thống niệm chân thật danh hiệu Phật A Di Đà tất sẽ được vãng sanh, một khi đã được vãng sanh thì tiến thẳng đến quả vị Phật, bởi vì cái Tâm Tánh này thì Phật và chúng sanh ta đồng cùng có như nhau, không có Tâm nào chỉ riêng thuộc về Phật, cũng không hề có Tâm nào chỉ riêng thuộc về chúng sanh ta! Nếu lấy Tâm thuộc về A Di Đà mà nói thì chúng sanh ta là chúng sanh trong Tâm của Phật A Di Đà, còn như lấy cái Tâm thuộc về chúng sanh ta mà nói thì có phải chăng A Di Đà Phật là Phật A Di Đà trong Tâm của chúng sanh ta! Lấy chúng sanh trong tâm của A Di Đà Phật mà niệm Di Đà trong Tâm của chúng sanh thì chẳng phải là A Di Đà trong tâm của chúng sanh lại không cảm ứng Đạo giao với chúng sanh ở trong Tâm của A Di Đà hay sao? Vậy thì đi đứng nằm ngồi, năm canh, sáu khắc không quên nhớ nghĩ sáu chữ “Nam mô A Di Đà Phật” không chút nào lơi lỏng, cũng có nghĩa là chúng sanh ta đạt được lý tánh và công đức chẳng đủ để đi về miền Tịnh Độ ư?
    Thiết tin vào pháp môn Niệm Phật Tịnh Độ Vãng Sanh là một phương pháp tu hành hoành siêu tam giới, một đời hạ công là siêu thẳng đến quả vị bất thối luân hồi,không cần phải nhiêu khê, khúc chiết như hầu hết các phương pháp tu hành khác; ban đầu phải trì giới hành thiện để ra khỏi ba đường ác, rồi phải tu tập Thiền định để thoát ra Dục giới, phải tu Bát nhã để vuợt qua Sắc giới, Vô Sắc giới vậy mà vẫn chưa vào được quả vị Bồ Tát Chánh Định Tụ và vẫn còn có thể bị trôi lăn cuốn hút vào dòng xoáy mê đọa luân hồi! Chi cho bằng NẮM chặt lấy Pháp môn Niệm Phật này chỉ từ quy y Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng tại thế giới ô trược Ta Bà mà quy y sang Tam Bảo Phật Pháp Tăng ở thế giới Tịnh Độ để được đốn ngộ, siêu thoát ra ngoài tam giới. Pháp môn Niệm Phật này dễ hành trì tu tập nhất và cũng là diệu dụng nhất.

    *NGUYỆN.

    Nguyện chính là nguyền, là lời thề để xác lập cái đích đến của sự nguyện cầu, sự khẳng định không có gì thay đổi được. Người hành khách không thể đến nơi mặc dù đã ngồi trên xe, trên thuyền mà không cho người chở biết mình sẽ đi đến đâu. Khi đã xác định được lòng tin cũng tợ như người đã ngồi lên xe, lên thuyền, việc kế tiếp là phải cho người điều khiển phương tiện biết mình sẽ xuống ở bến nào! Dưới một góc nhìn khác, người tu hành ít nhất cũng phải tỏ một thái độ rõ ràng là muốn về đâu, cũng có nghĩa là mình không muốn ở lại chốn nầy nữa.
    Không muốn ở lại cõi Ta Bà, vì thế giới nầy có muôn trùng cái khổ, cái phiền não. Đức Thầy cũng từng nói: Ta bà khổ,Ta bà lắm khổ. Nào là nội ngoại cộng tam y câu khổ; trong thì sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, mưu cầu bất đắc khổ, oan tắng hội khổ, ưu sầu khổ. Ngoài thì các biến đổi thiên nhiên khí hậu mà có các sự khổ về mưa, gió, bão, lũ lụt, chướng khí sơn lam, khói bụi, sóng gió rắn rít muổi mòng. Loài người còn phải gánh chịu thêm các cảnh khổ như bị kếm chế, giam cầm, mắng chưởi, tranh giành mất mát tổn hại, dâm loàn hung dữ…và các địch họa, đạn bom, khủng bố.
    Không muốn ở lại cõi Ta bà, vì cõi Cực Lạc có sẳn nội ngoại cộng tam y câu lạc được vĩnh viễn thoát khỏi những khổ ách, hóa thân như ý nên nội y chỉ có vui mà không có khổ, ngoại y thì thọ cảnh an tâm, thiện hữu bầu bạn, nên cộng y chỉ có vui mà không có khổ.
    Chán bỏ cõi Ta bà, cũng có nghĩa là người tu hành chúng ta không còn muốn luân hồi lên lên, xuống xuống nữa, không muốn làm ngạ quỷ súc sanh, không còn muốn bị nhổ lông, quay, nướng. Muốn vượt thoát khỏi cảnh khổ não nầy ta phải phát nguyện vãng sanh về Tịnh độ Cực lạc, đoạn dứt mọi phiền não nhắm đến việc thành tựu, Sáng Cái Tâm Vô Thượng Chánh Giác, hầu tu tập được vô lượng pháp môn và để hóa độ vô biên sanh chúng.
    Xác định được thệ nguyện thiết tha như vậy cho dù gặp phải chướng duyên hay thuận cảnh,ta vẫn cứ một lòng một dạ nắm chặt lấy lời thề nguyền nầy, tan xương nát thịt cũng không rời. Là người cư sĩ tại gia tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, lòng tôn kính Đức Thầy là vô biên, không lấy gì mà đo lường được…giả như nếu Thầy có bảo ta nên bỏ phương Tịnh Độ nầy thì chúng ta cũng phải cung kính thưa trình lại với Người: Kính bạch Thầy, con nhất quyết một đời một Đạo đến ngày chung thân, xin Thầy cho con phụng hành cứu cánh Tịnh Độ vãng sanh nầy, dù thân con phải ra tro bụi.
    Thệ nguyện được như vậy mới là nguyện thiết, mới cảm ứng được cái Tâm Phật A Di Đà trong cái Tâm của chúng sanh ta! Lòng ta đã quyết thì phải cung kính lập thệ trang nghiêm trước Tam Bảo Phật đài, xin Đức Phật A Di Đà mở lượng từ bi tiếp dẫn mình về Tây phương Cực Lạc một khi thọ mạng của mình đã tận.Cầu xin Đức Phật A Di Đà hoan hỷ tiếp dẫn các oan khiên nghiệp báo từ lũy kiếp đến nay do lầm lạc bởi vô minh nên mình gây tạo nên nổi khổ niềm đau hoặc giết hại người khác.
    Khi đã có niềm tin sâu dầy vào pháp môn của các bậc Đạo sư chỉ dạy, có niềm tin chắc thật và khả năng của mình có thể đạt được, có được niềm tin vững chải vào nơi mình sẽ đến mà chúng ta không có một thệ nguyện thiết tha sẽ về nơi ấy, sẽ làm cho sáng được cái Tâm bản hữu thì chẳng khác nào người tu tập ta chẳng có tin gì hết! Được thân người đã là khó mà ta lại được thân người với sáu căn lành lặn, thêm lại được hiện hữu với thân người nam lại càng khó hơn. Được nghe Phật pháp đã là khó, lại còn được thọ dụng 48 đại thệ nguyện của Đức Phật A Di Đà và tiếp nhận pháp môn Niệm Phật Vãng Sanh Tịnh Độ của Ngài lại còn khó hơn.Chúng ta được phước báo gì mà được thân người lành lặn xinh đẹp? Chúng ta được phước báo gì được thọ dụng danh hiệu của Phật A Di Dà và tu tập theo pháp môn Tịnh độ? Được như vậy mà ta không chịu thệ nguyện thì há chẳng phải là đáng tiếc lắm hay sao?
    Chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay, thiện căn và nghiệp lực cạn sâu, nặng nhẹ ta không thể biết được, nhưng cứ theo lời dạy của chư Cổ đức thì hãy nhìn những gì ta thọ hưởng ở hiện kiếp thì ta sẽ biết được lúc ở tiền kiếp chúng ta đã làm những gì và hậu kiếp sẽ ra sao cũng do các hành vi trong đời sống hiện tại này mà ra. Một niệm bởi do Tâm ở hiện kiếp nầy vốn đồng thể với Phật, nhưng Phật là một chúng sanh đã từng giác ngộ, còn ta vẫn luôn từng mê muội. Phật tuy đã Ngộ song Tâm Tánh không có gì tăng, dầu ta tuy còn Mê nhưng Tâm Tánh cũng không có gì giảm. Người Ngộ kẻ Mê Tâm Tánh cứ vẫn y chang nhau, tuy Tâm Phật không tăng nhưng vì thuận theo Tánh Bổn hữu nên hưởng được nguồn vui, nguồn hạnh phúc của tâm hồn đã giải thoát, đã cởi bỏ sinh tử. Tuy tâm chúng sanh ta không giảm nhưng vì trái với Tánh Bổn hữu nên đành phải chịu gánh lấy những khổ đau trùng trùng.
    Tâm Tánh của Phật với ta là đồng thể, nhưng Đức Phật luôn luôn lấy Tâm đại từ đại bi nhiếp hóa chúng ta, còn ta cứ mê muội dù đang đối đầu với khổ đau mà vẫn không biết ngưỡng cầu nơi Phật, chẳng biết gởi trọn niệm niệm vào nơi Phật chỉ biết trôi lăn theo cảnh mà sanh vọng tâm, chìm đắm vào trong tình niệm mà gây bao nghiệp chướng, nào là ngủ nghịch, thập ác…khổ đau lớn nhỏ gì chúng sanh ta cứ đeo mang! Đại sư Hành Sách có dạy: Đạo niệm mà bằng với Tình niệm thì chúng sanh ta thành Phật đã lâu.
    Nếu hôm nay,trước đại sự nhơn duyên này mà ta không từ bỏ được lề thói cũ,mà ta vẫn không lập được thệ nguyện thì ta còn chờ đợi cái gì nữa! Tâm Tánh của chúng sanh và Phật là vốn có sẳn. Đã vốn là có sẳn thì không thể nào không có được.Hãy lấy cái Tâm nguyện chứng ngộ mà niệm Phật thì lo gì không cảm ứng. Hãy lấy cái Tâm hổ thẹn, lấy cái Tâm chán ngán cõi Ta Bà, lấy cái Tâm báo đáp trọng ân mà niệm Phật thì lo gì chư Phật không cảm ứng! Còn chần chờ gì mà không thệ nguyện.

    *HẠNH.

    Hạnh là Hành, là làm, là thực hiện là áp dụng những lời chỉ dạy đem lý thuyết đi vào đời sống một cách cụ thể, tạo nên một hình tượng, đáp ứng được những thệ nguyện từ lòng tin thâm sâu chắc thật. Từ lòng tin ở mình, tin lời Phật dạy, tin vào pháp môn nhất là vào 48 đại nguyện của Đức Phật A Di Đà…đã đưa người tu tập ta đến hạ quyết tâm lập thệ đi về quốc độ an vui của Ngài, từ những cái nhìn chân thật mà chúng ta đã nhận diện được các nổi khổ đau ở cõi Diêm Phù Đề này.
    Trong pháp môn Tịnh độ, hạnh chính là công hạnh của tín chúng, chỉ có hành mà thiếu lòng tin và thệ nguyện thì hạnh không thể là công hạnh được. Tín, Nguyện, Hạnh là sự cấu tạo vững chắc từ một thế nương tựa lẫn nhau, nếu thiếu một thì phương pháp tu tập cũng sẽ không thể đạt được một thu hoạch khả dỉ nào cả! Nếu có tín, có nguyện mà không có thực hành thì vẫn như không có tín, nguyện gì, nếu ta có lòng tin vào hạt giống chắc chắn cho ra hoa trái và ước nguyện là hoa sẽ thơm và trái sẽ ngọt mà ta không gieo hạt vào đất, hoặc gieo vào đất mà không chăm nom tưới tẩm thì hoa trái ở đâu mà thu hoạch. Cũng như vậy, pháp môn Tịnh Độ cần phải gieo hạt (chủng tử) vào mảnh đất Tâm và cũng phải thực tập (chăm nom, tưới tẩm) thì mới có được hoa, được trái!
    Phương pháp Niệm Phật, nếu cứ vào các Kinh điển Phật giáo thì có rất nhiều cách: Kinh A Hàm dạy buộc Tâm nhớ niệm, chuyên tâm quán tưởng công đức vô lượng của Phật bao gồm thân thể và đức tướng Phật như giới đức, tam muội, trí tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Kinh Ban Chu Tam Muội dạy niệm danh hiệu Phật, niệm thân Phật tướng hảo quang minh, niệm tướng cõi Phật, nếu thành tựu được Tam muội thì sẽ thể nghiệm được tâm tự thấy biết chính nó thì tâm ấy chính là Phật, tâm Phật ở ngay nơi thân của ta. Nếu tâm còn thấy Phật bên ngoài, thì tâm ấy không tự biết, không tự thấy chính mình, tâm mà có tưởng thì đó là si tâm, Tâm không có tưởng chính là Niết Bàn. Kinh Vô Lượng Thọ dạy nên nắm vào đại nguyện thứ 18 trong 48 đại nguyện của Đức Phật A Di Đà “Khi ta được thành Phật, chúng sanh trong mười phương, chí tâm tín nguyện, muốn sinh về nước ta,cho đến mười niệm, nếu không được vãng sanh, ta không thành Chánh giác”. Trong Kinh này có hai lần nêu ra “thậm chí một niệm” cũng được vãng sanh. Kinh Quán Vô Lượng Thọ dạy niệm Phật quán tưởng, niệm Phật quán tượng, niệm Phật thật tướng. Kinh lại nói đến niệm Phật vãng sinh chín Phẩm, bậc Thượng phẩm thượng sanh, bậc Hạ phẩm thượng sinh, bậc Hạ phẩm hạ sinh…Theo Kinh văn ngoài ba phương pháp niệm Phật quán tưởng, quán tượng, thật tướng dạy chúng sanh phàm phu ta vẫn có thể dùng pháp môn lục niệm xưng danh hiệu Phật là thích nghi nhất.
    Sau này các Tổ sư Tịnh tông cũng tiếp tục đưa ra nhiều phương Niệm Phật như phép niệm Phật từ một niệm cho đến mười niệm. Ngủ niệm môn với Lễ bái môn,tán thán môn, tác nguyện môn, quán sát môn và hồi hướng môn. Đến Ngủ phương tiện niệm Phật môn với: Xưng danh vãng sinh niệm Phật tam muội môn, Quán tướng diệt tội niệm Phật tam muội môn, Chư cảnh duy tâm niệm Phật môn, Tâm cảnh câu ly niệm Phật môn và Tịnh khởi viên thông niệm Phật tam muội môn… Chung nhất lại ta có thể thấy được pháp môn Niệm Phật đều quy vào 4 phương cách:
    -Thật tướng niệm Phật.
    -Quán tưởng niệm Phật.
    -Quán tượng niệm Phật.
    -Trì danh niệm Phật.

    Phương pháp phù hợp với căn cơ của người tu tập cư sĩ tại gia Phật giáo Hòa Hảo theo lời dạy của Đức Thầy là Trì danh niệm Phật. Phép trì danh nầy gồm 2 cách là quán tưởng trì danh và nhiếp tâm trì danh.
    Quán tưởng trì danh là phương pháp trì danh hiệu và quán tưởng pháp thân Đức Phật A Di Đà.
    Nhiếp tâm trì danh thì trong chữ Trì có nghĩa là ôm lấy, nắm giữ danh hiệu Phật A Di Đà không buông rời một khoảnh khắc nào cả. Có 5 cách trì danh gồm: Cao thanh trì, Đê thanh trì, Kim cang trì, Mặc trì và ý trì. Mỗi cách đều có những lợi ích riêng của cách ấy, nên tùy duyên mà ứng dụng để đạt được mục đích niệm Phật trong đời sống tu tập của mỗi người.
    Cao thanh trì là niệm ra tiếng lớn, Đê thanh trì là niệm ra tiếng nhỏ, Kim cang trì là niệm không ra tiếng nhưng còn nhép môi, Mặc trì là vẫn niệm bằng miệng nhưng không ra tiếng và cũng không nhép môi, Ý trì là niệm bằng ý.
    Y cứ theo lời dạy của Đức Thầy trong Giáo lý Thi văn trong phần Niệm Phật: “…Niệm Phật nhiều ít tùy theo sức mình, lúc cầu nguyện và niệm Phật chỉ niệm trong Tâm.
    Nam mô A Di Đà Phật, sáu chữ đi đứng nằm ngồi, rán niệm chớ quên không đợi gì thời khắc”

    Vậy pháp môn Niệm Phật của Phật Giáo Hòa Hảo, Đức Thầy chỉ thẳng cho chúng ta nên áp dụng phép Niệm Phật theo Ý trì nghĩa là niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà bằng Ý.
    Chữ Niệm theo hán tự, theo cách xây dựng chữ là một loại chữ viết dựa theo hình dáng sự vật mà hội ý, thì chữ Niệm gồm có chữ Kim nằm trên và chữ Tâm nằm dưới. Chữ kim lại có nghĩa là hiện tại, là ngay đây vậy thì chữ niệm phải hiểu là hiện tại đây, ngay đây Tâm phải có mặt. Các vị Tổ sư có dạy: “Tâm vô nhị dụng” nghĩa là Tâm không thể làm hai việc cùng một lúc được. Kinh Pháp Cú dạy: “Trong các pháp ,tâm dẫn đầu, tâm là chủ, tâm tạo tác tất cả. Nếu đem tâm ô nhiễm tạo nghiệp nói năng hoặc hành động, sự khổ sẽ theo nghiệp kéo đến như bánh xe lăn theo chân con vật kéo xe. Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm là chủ, tâm tạo tác tất cả. Nếu đem tâm thanh tịnh tạo nghiệp nói năng hoặc hành động, sự vui sẽ theo nghiệp kéo đến như bóng theo hình”
    Theo Duy Thức học thì “Ý thức công vi thủ, tội vi khôi”. Nghĩa là luận về công thì ý thức đứng đầu, luận về tội thì ý thức cũng đứng đầu. Làm ÁC cũng do . Làm TỘI cũng chính mà ra! Đức Thầy của ta nói rất rõ về :

    Địa ngục cũng tại Tâm làm quấy,
    Về Thiên đàng Tâm ấy tạo ra.
    Cái chữ Tâm là quỷ hay ma,
    Tiên hay Phật cũng là tại nó.

    Với phép Niệm Phật Ý trì ta buộc ý thức phải nhiếp câu niệm Nam Mô A Di Đà Phật, thì ý thức không còn làm được gì khác, vắng bặt vọng niệm, vọng tưởng nên câu Phật hiệu luôn luôn hiện tiền bất kể đi đứng nằm ngồi…Tuy nhiên thực tập theo phương pháp Ý trì dù có ưu điểm không hao hơi tổn khí nhưng vẫn có khuyết điểm là dễ hôn trầm. Đây là một vấn đề sinh tử trong đời sống tu tập của hạng tại gia cư sĩ Phật Giáo Hòa Hảo chúng ta, có người vẫn ưu tư không biết phải theo khuôn phép nào để vừa đạt được đến cứu cánh vừa không sai lệch lại lời dạy của Tôn sư?
    Thuốc không phân quý tiện, lành bệnh là thuốc hay. Pháp không phân cao thấp, giác ngộ là chân pháp! Phải biết rằng thời gian chúng ta cách Phật đã gần 3000 năm. thời kỳ được xem là mạt pháp, nhưng thực ra hễ là Chân pháp thì không thể nào mạt được, duy chỉ có điều tâm địa chúng sanh ta còn bị gió vô minh, gió tham sân…trăm ngàn thứ u mê vây hãm mãi không hở một phút giây, cho nên Chân tâm bị dao động khủng khiếp khôn lường, không còn nhận ra đâu là Phật, đâu là Chủ nhơn ông, đâu là cái Bổn lai diện mục của mình nữa!
    Nước không phải là sóng, sóng không phải là nước nhưng ngoài sóng không có nước và ngoài nước không có sóng. Do vậy, ta có thể nói nước tức là sóng và ngược lại sóng tức là nước! Tuy nhiên nước muôn đời cũng vẫn là nước, còn sóng thì khi thế này, khi thế khác tùy theo duyên tác động nên biến đổi vô thường.
    Chân tâm và vọng tâm cũng như vậy, một khi chân tâm đã bị quay cuồng điên đảo thì chân pháp cũng trở thành mạt pháp. Một khi vọng tâm đã được tĩnh lặng, bản hửu rạng ngời thì pháp nào là mạt pháp. Pháp có mạt hay không do chúng sanh ta chớ không hề do pháp, chính vì vậy cho nên phương pháp tu tập chẳng phải chỉ cần hợp Lý mà nó rất cần phải hợp Cơ nữa.
    Mọi vấn đề có thể đưa chúng ta đến thành công hay thất bại phải được suy gẫm theo nguyên lý nhất bản tán vạn thù, vạn thù quy nhất bản nghĩa là chỉ có một cái cội gốc, một bản thể nhưng phân tán ra làm thiên hình vạn trạng nhưng dù cho là thiên hình vạn trạng thì cũng phải quy về bản thể gốc kia!
     
  3. Tamtran

    Tamtran Administrator

    PHẦN III.

    * NHỮNG TRẢI NGHIỆM TRONG ĐỜI SỐNG TU TẬP CỦA NGƯỜI CƯ SĨ TẠI GIA P.G.H.H.

    Trong cuộc viễn hành về quê hương Cực Lạc bằng con thuyền Tịnh Độ có lẽ chúng ta người cư sĩ tại gia Phật Giáo Hòa Hảo vẫn có một số việc còn vướng mắc, phân vân…Qua kinh nghiệm tu tập bản thân phải chăng chúng ta cần có được một cái tâm cầu tiến, một tấm lòng biết tàm quý để chân thành nêu lên một số vấn đề còn băn khoăn chưa thông suốt!
    Người tu tập theo pháp môn nầy thường được cộng đồng xem là bậc tu giải thoát, nghĩa là họ chán bỏ cõi Ta bà uế trược,dốc hết một đời quyết ra khỏi chốn mê đồ. Muốn thành tựu hạnh Bồ tát, Phật với đầy đủ công đức và trí tuệ, thông đạt vô lượng pháp môn phương tiện, khéo tùy thuận với tất cả căn tánh chúng sanh để hóa độ, ngay chốn hồng trần nầy thật khó vô cùng, muốn đạt được chúng ta cần phải nhập cuộc trên tinh thần phải vừa khế lý, phải vừa khế cơ.
    Trong giáo lý GIÁC MÊ TÂM KỆ Đức Thầy đã dành trọn vẹn cho lời giáo huấn môn đồ chúng ta các phép hành trì. Lời giáo huấn của Ngài là trước khi về cõi GIÁC người tu tập ta phải biết BUÔNG các tập khí phàm phu mà theo Giác Kinh đề cập đến là: Tam bành, lục tặc, nhất là những ác nghiệp do miệng lưỡi gây nên, biết buông bỏ Bản ngã, buông bỏ “cái Tốt” của mình…Cũng trong Giác Kinh Thầy dạy người tu tập ta trước là phải NẮM những nền tảng Đạo đức, giữ lòng Khiêm hạ để dễ dàng thực hiện báo đáp Tứ Ân, sau phải nhận rõ các pháp Tứ Diệu Đề và Bát Chánh Đạo…Chung nhất lại chỉ là dạy ta lau chùi, quét dọn lại cái Tâm Bản Hữu:

    Xác trần tục như cây cạnh khến,
    Làm hiền hoài ắt phải tiêu mòn.
    Đẽo với bào riết nó cũng tròn,
    Đến chừng đó trông vào rất tốt.

    Vấn đề quan trọng trong việc tu tập là chữ Tín Thành. Tấm lòng kiêng nể Trời Phật Thần Thánh không phải là chuyện mê tín, có kính trọng Trời Phật Thần Thánh thì chúng ta mới có được tấm lòng kính trọng những người chung quanh mình.Phật ở trong Tâm ta, Trời cũng ở trong Tâm ta, vậy thì Thần, Thánh ở đâu nếu chẳng phải ở trong lòng mình. Thường thì phàm phu ta hay có những hành vi xúc phạm nếu không muốn nói là lường gạt Thánh Thần Trời Phật. Lúc gặp cơn khốn cùng thì cầu khẩn van xin, hứa hẹn đủ chuyện đủ điều, đến khi thoát qua thì…

    Bước vào Chùa thấy Phật lạy dài,
    Lui khỏi cửa ra tay cấu xé.

    Đa số những lời nguyện, khấn của mình xét ra cũng rất dễ thương và đơn giản lắm. Mua một ốp nhang, sắm một mâm lễ vật, lạy Phật vài lạy chỉ xin Phật cho con, cho gia đình, cho dòng tộc con được tai qua nạn khỏi, tật bịnh tiêu trừ…đôi khi còn phụ họa xin thêm việc mua may bán đắt, mua một cắc bán một đồng hoặc lúa trúng vụ mùa, bán ra được giá v..v..Chỉ một việc tiêu trừ tật bịnh nếu ta chiết tính bằng giá trị vật chất sòng phẳng thì không có lễ vật nào có thể đánh đổi được phải không? Không có Phật Trời Thần Thánh nào ban phúc hoặc giáng họa cho mình, họa hay phúc chính là do ta chiêu lấy quả từ các việc làm trong hiện kiếp hoặc lũy kiếp mà nên phúc hay họa.
    Cái mà chúng ta phải NẮM không phải là tìm kiếm những điều huyễn hoặc, những mất còn, những huyền vi trong đời sống hiện tại. Thực tế, người tu tập tại gia Phật Giáo Hòa Hảo chúng ta, dù nhìn dưới gốc độ nào thì ta như một đứa trẻ thơ đang ngóng trông mẹ mình về nhà, thái độ khôn ngoan là chúng ta nên làm tròn những lời giáo huấn của người mẹ đã nhiều lần căn dặn, không cần phải đoán non đoán già ngày về của mẹ mình. Chu toàn việc nhà là bổn phận của mình, về hay chưa là việc của mẹ mình, công việc chưa xong, thời cơ chưa đến thì làm sao mẹ về được mà mong ngóng. Người Từ mẫu ấy đã từng căn dặn:

    Định tâm thần như mặt nước hồ,
    Suy với nghĩ,nghĩ suy đường lối.
    Muốn Niệm Phật chẳng cần sớm tối,
    Ghi vào lòng sáu chữ Di Đà.

    Tâm ta có định tĩnh như mặt nước hồ chưa? Con đường Niệm Phật của ta có ghi được sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật chưa? Hay sáu chữ nầy đến bây giờ vẫn còn chập chờn khi còn khi mất! Hãy hạ thủ đi, dù tấm lòng của mẹ bao la như trời, như biển nhưng không vì thế mà mẹ không la rầy mình. Bổn phận giác ngộ là của đứa con, một khi chưa làm xong chắc sẽ rất lo sợ ngày trở về của mẹ mình lắm phải không?
    Người tu hành chúng ta cũng phải hiểu thế nào là tu hành. Tu là sửa, hành là động thái, là hành vi. Tu hành chính là thái độ, là hành vi sửa đổi những sai lầm mà trước đây ta đã phạm phải. Theo giáo lý Phật giáo hành vi có một phạm trù rất rộng lớn, nhưng tựu trung vẫn không ngoài ba phạm vi Thân, Khẩu và Ý.Thân là sự tạo tác, Khẩu là lời nói, Ý là tư tưởng, là kiến giải, là cách nghĩ đối với các đối tượng. Ý chính là yếu tố rắc rối nhất bởi vì chính Ý có bản chất là hay tìm tòi, thêm bớt theo ý của mình, thậm chí ngay trong lời dạy của Phật, của chư Tổ, của Thầy chúng ta cũng muốn kiếm tìm những cái mà “chưa ai biết” trong ấy! Nên nhớ rằng phần nhiều các lời dạy của các Ngài gần như là không có văn tự, những gì mà chúng ta đọc được ngày hôm nay do các cao đồ chứng đắc của các Ngài kiết tập, trùng tuyên lại nên trong chữ viết thực chất chẳng có Phật, chẳng có Tổ và cũng chẳng có Thầy ở trong ấy, nên người tu hành chúng ta không cần phải “chẻ chữ” ra mà tìm!
    Giáo pháp nhất thiết là phải khế lý và khế cơ, nên một câu kinh, một câu giảng sẽ luôn khế cơ trong từng thời điểm, trong từng tâm tánh của mỗi chúng sanh. Tìm hiểu lý nghĩa là một hành vi cần thiết nhưng không phải vì thế mà chúng ta phải cưỡng ép ngôn từ ngã theo kiến giải của bản ngã. Cái cốt tủy của Đạo chính là cái Tâm, bất luận điều gì khiến Tâm bất an, khiến Tâm bất định thì điều ấy không phải là Đạo.
    Xác định được như vậy để chúng ta phải biết BUÔNG những chướng ngại làm chậm đi quá trình thanh lọc Tâm, và chúng ta cũng phải biết NẮM những gì của Tâm đã được thanh lọc. Khi hạ thủ công phu Niệm Phật bằng phương pháp Ý trì nghĩa là đi đứng nằm ngồi đều phải buộc chắc Tâm vào Nam Mô A Di Đà Phật. Phép tu tập nầy tất nhiên cũng vẫn cần có ba yếu tố Tín, Nguyện, Hành. Tín phải sâu, Nguyện phải tha thiết, Hành phải trì chí kiên tâm.
    Tin vào 48 đại nguyện của Đức Phật A Di Đà, nắm chặc nguyện lực thứ 18. Nguyện thì người cư sĩ Phật Giáo Hòa Hảo chúng ta, thông thường một ngày hai thời lễ bái ta đã theo lời chỉ dạy của Đức Thầy mà phát lời thệ nguyện, phát lời quy y:

    Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
    Nam Mô Thập Phương Phật.
    Nam Mô Thập Phương Pháp.
    Nam Mô Thập Phương Tăng.
    Nam Mô Phật Tổ Phật Thầy, Quan Thượng Đẳng Đại Thần, Chư Quan Cựu Thần, Chư Vị Sơn Thần, Chư Vị Năm Non Bảy Núi cảm ứng chứng minh nay con nguyện cải hối ăn năn làm lành lánh dữ, quy y theo mấy Ngài, tu hiền theo Phật Đạo.
    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi phổ độ chúng sanh A Di Đà Phật.
    Nam Mô nhứt nguyện cầu: Thiên Hoàng Địa Hoàng, Nhơn Hoàng, Liên Hoa hải hội, Thượng Phật từ bi, Phật vương độ chúng, thế giới bình an
    Nam Mô nhị nguyện cầu: Cữu huyền Thất tổ Tịnh độ siêu sinh.
    Nam Mô tam nguyện cầu: Phụ mẫu tại đường tăng long phước thọ, phụ mẫu quá khứ trực vãng Tây Phương.
    Nam Mô tứ nguyện cầu: Bá tánh vạn dân từ tâm bác ái, giải thoát mê ly.
    Nam Mô ngủ nguyện cầu: Phật Tổ, Phật Thầy từ bi xá tội đệ tử tiêu tai tịnh sự, trí huệ thông minh,giai đắc đạo quả.

    Như vậy, người tu tập Phật Giáo Hòa Hảo, trong một ngày đã 2 lần cầu vãng sanh từ bài văn nguyện do Đức Thầy chỉ dạy. Mỗi người sau khi nguyện bài: “Tây Phương ngủ nguyện”, cũng có thể tùy theo sự thiết tha thành khẩn của riêng mình mà phát tâm lập nguyện trước Tam Bảo Phật đài.
    Trình tự của một thời công phu cơ bản phải bắt đầu từ việc chuẩn bị đến việc hành trì. Trước khi công phu tâm phải được buông xã, thân thể phải sạch sẽ, y phục, áo tràng phải được cài thắt đoan trang; nên nhớ mặc dù đúng giờ giấc công phu mà trong lòng mình còn nhiều bực dọc, sân nộ là tốt hơn không nên công phu cầu cúng, mà nên ngồi xuống niệm Phật, hoặc đi thư giản cho tâm lấy lại sự bình thản, rồi sau đó mới nên công phu, như vậy thời công phu mới có thể có kết quả. Sau khi lễ bái xong các ngôi thờ phượng trong gia đình, ta nên ngồi xoay mặt về phương Tây, nếu vị trí thiết lập ngôi thờ Tam Bảo Phật Đài ở đúng vào hướng Tây thì tốt, tư thế ngồi kiết già hoặc bán già, hoặc tùy theo cơ địa mỗi người mà có cách ngồi cho thật thoải mái, cần chú ý đến sống lưng phải thẳng, nhưng buông thả không kênh cứng, để giúp máu huyết lưu thông dễ dàng hầu duy trì thời khóa công phu.Trước khi bắt đầu nhiếp Tâm niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà, nên khởi động sống lưng một vài lượt bằng động tác nghiêng trái, nghiêng phải, ra trước ra sau rồi sau đó ổn định lại.
    Phép trì niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà cứ theo cách quen thuộc trước đây, không nên chú trọng nên niệm thế nào 4 chữ hay là 6 chữ? Lời dạy của Đức Thầy là niệm 6 chữ Nam Mô A Di Đà Phật. Sáu chữ nầy được dịch âm từ tiếng Phạn, Nam Mô là qui mạng, là quay về nương tựa…chữ A dịch nghĩa là Vô, chữ Di Đà dịch là Lượng, chữ Phật dịch là Trí, là Giác. Niệm Nam Mô A Di Đà Phật ta phải hiểu là quay về nương tựa với bậc Vô Lượng Trí, Vô Lượng Giác. Trong Kinh A Di Đà, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni muốn nói đến công đức của Đức Phật A Di Đà nên Thế Tôn tự nêu lên câu hỏi, và sau đó tự giải đáp: Xá Lợi Phất! Ư nhữ ý vân hà,bỉ Phật hà cố hiệu A Di Đà.(Xá Lợi Phất! Nơi ông nghĩ thế nào, vì sao Đức Phật kia tên gọi là A Di Đà?) Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quang minh vô lượng chiếu thập phương quốc vô sở chướng ngại. Thị cố hiệu A Di Đà.(Xá Lợi Phất! Quang minh của Đức Phật kia, rất sáng suốt vô lượng, chiếu đến khắp mười phương cõi nước, không bị một vật gì làm chướng ngại, thế nên gọi là A Di Đà) Hựu Xá Lợi Phất! “Bỉ Phật thọ mạng cặp kỳ nhân dân vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp, cố danh A Di Đà” (Lại nữa Xá Lợi Phất! Đức Phật kia và nhân dân của Ngài thọ mạng vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, thế nên gọi là A Di Đà). Do vậy, A Di Đà là tên hiệu của Đức Phật cho nên người tu tập sơ cơ ta nên trì niệm sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật để tỏ lòng thành kính và cũng dễ cảm ứng hơn.
    Gần đây, có một số người không niệm Nam Mô A Di Đà Phật mà lại niệm Nam Mô A Mi Đà Phật, như đã nói danh hiệu Đức Phật là được phiên âm từ tiếng Phạn, Phiên âm là đọc một tiếng nào đó theo âm của ngôn ngữ mình cho nên chữ Di hay Mi thì ngữ âm tương tợ như nhau. Chúng ta nên niệm theo thói quen mà không nên thay đổi. Có một câu chuyện được đưa ra để chúng ta thêm sáng tỏ :
    Có một bà già kia, nhân nghe người ta đọc một câu mật chú, bà định tâm sẽ về nhà trì niệm câu chú này. Không hiểu thế nào mà bà về nhà lại thành kính nhập tâm trì Án Ma Ni Bát Rị Nhu. Một năm, hai ba năm sau thì câu chú nầy được trì mãi bỗng trở nên linh ứng, trước đây mỗi khi đọc một câu chú bà thường dùng tay bốc hạt đậu để bỏ sang lon bên kia, tợ như chúng ta dùng hạt chuổi để ghi nhớ tiếng niệm Phật ngày nay. Đến một hôm thì hạt đậu không chờ bà chạm đến mà tự động nhảy sang lon bên, mỗi khi bà trì xong một câu chú. Một ngày nọ, có một nhà Sư ngang qua nhà nghe bà trì như vậy, vì xót thương nên ông đánh tiếng gọi bà và dạy: Bà trì chú như vậy là không đúng rồi, An Ma Ni Bát Rị Hồng mới đúng. Bà nên sửa tiếng nhu thành tiếng hồng. Bà già nghe lời nhà sư trì lại Án Ma Ni bát Rị Hồng.Thế nhưng khi trì lại cách này thì hạt đậu trong lon không tự động nhảy nữa, bà vô cùng phân vân không biết trì cách nào cho đúng. Bà trì lại cách cũ hạt đậu cũng không nhảy, trì lại cách mới hạt đậu cũng không nhảy. Cứ đổi tới đổi lui cũng chẳng có kết quả gì. Phải chăng trong lòng người trì chú luôn hoang mang, nên không có được yếu tố tương ưng, nhập tâm khi trì chú.
    Qua câu chuyện trên ta lại càng thấy thấm thía với lời dạy của người xưa: Linh tại ngã, bất linh tại ngã .Linh cũng tại nơi mình, mà không linh cũng tại nơi mình! Không nên thay đổi cách niệm danh hiệu Đức Phật mà ta đã từng niệm xưa nay.
    Theo lời dạy của Đức Thầy thì phương pháp niệm Phật của chúng ta là Ý Trì, nghĩa là niệm danh hiệu Phật trong Tâm, đi đứng nằm ngồi gì cũng phải ôm chặc chân Đức Phật A Di Đà. Phương thức hành trì thì như vậy, nhưng khi hành trì như đã nói, người hạ thủ sẽ gặp những chướng ngại như: hôn trầm, vọng niệm, phan duyên, vô ký…Theo Phật Giáo, nhất là chư Tổ Tịnh độ tông, mỗi vị đều đưa ra một cách đối trị các chướng ngại này, nhưng tựu trung vẫn là thay đổi tư thế, phương cách hoặc tốc độ niệm; đang tĩnh tọa thì đổi sang kinh hành, đang niệm thầm thì đổi niệm ra tiếng, nếu không muốn thay đổi tư thế thì gia tăng tốc độ của tiếng niệm Phật (niệm nhanh).
    Riêng về vọng niệm thì đây gần như là lẽ đương nhiên của người tu tập. Vọng niệm cũng do tâm sinh, vì vọng tâm cũng chính là từ chơn tâm, muốn diệt vọng niệm thì phải phải nhổ cái gốc của nó, mà cái gốc của nó là chơn tâm và chơn tâm thì thường hằng và bất biến. Chính vì vậy ta chỉ có thể chế phục hay chuyển hóa vọng niệm trở thành chánh niệm!
    Cổ đức dạy “chẳng sợ vọng niệm khởi,chỉ sợ giác chậm” Nghĩa là khi ta hạ thủ công phu niệm Phật đừng sợ vọng niệm khởi lên vì đó chỉ là một chuyện dĩ nhiên, không ai tránh khỏi điều nầy. Điều đáng lo là chỉ sợ ta phát giác chậm, khiến tâm ta bị lung lạc không còn nhớ nghĩ đến công phu niệm Phật nữa. Vọng niệm tự khởi không cần phải lo ngại, không cần phải quan tâm đến chúng, ta cứ một lòng niệm danh hiệu Phật A Di Đà thì vọng niệm từ từ lặn mất. Niệm Phật càng sâu thì vọng niệm càng mỏng. Người tu tập Phật Giáo Hòa Hảo cần phải nhớ câu thần chú Biện Tâm của Thầy: Địa ngục, Thiên đàng, Ma, Tiên, Phật cũng do Tâm mà nên. Niệm Phật thì thành Phật. Niệm Ma thì thành Ma, không có lý nào niệm Phật mà thành Ma được và ngược lại. Hiểu như vậy để ta càng phải hạ quyết tâm “bán mạng” mà trì niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà!
    Có người cho rằng vọng niệm chính là nghiệp, điều nhận xét nầy quả không sai. Xét từ căn gốc thì nghiệp chính là những hành vi của ta từ trong quá khứ và kể cả hiện tại bây giờ, nếu các hành vi ấy chỉ được biểu hiện một hai lần thì gọi là nghiệp mỏng, nhưng nếu chúng được lập đi lập lại nhiều lần thì gọi là nghiệp dầy. Nghiệp mà dầy tỷ như cây gỗ có quá nhiều cạnh khến, tất nhiên công phu đẽo với bàu cũng phải lâu ngày chầy tháng. Dù mõng hay dầy thì nghiệp nhất định cũng sẽ được chuyển hóa, mau hay chậm tùy thuộc vào công phu của người tu tập, siêng năng hay chây lười? Trong thực tế khi chúng ta hạ thủ, gặp khi vọng niệm dấy lên dù đã chuyển từ niệm thầm sang niệm thành tiếng, vọng niệm vẫn còn y. Nếu gặp vọng niệm như thế thì ta phải biết rằng đây là một nghiệp lực quá dầy, miệng niệm Phật mà tâm cứ tự do dong ruổi làm cho người tu tập chúng ta rơi vào thế hữu khẩu vô tâm…Trước hết ta phải ngưng lại và bắt đầu kiểm soát tiếng niệm Phật, nên nhớ là kiểm soát tiếng niệm Phật (chứ không phải là kiểm soát hoặc đè giữ vọng niệm). Kiểm soát tiếng niệm Phật nghĩa là phải xem mình niệm danh hiệu có rõ ràng hay không? Nam phải là Nam, Mô phải là Mô, A phải là A, Di phải là Di, Đà phải là Đà và Phật phải là Phật, không niệm mất dấu thanh, hoặc thêm dấu thanh của chữ của tiếng. Tiếng niệm Phật phải xuất phát từ tấm lòng cực kỳ muốn giải thoát vãng sanh, như vậy thì tiếng niệm Phật cùng với cái tâm gắn khít với nhau. Tâm và tiếng phải duyên vào nhau, tiếng ở đâu thì tâm phải ở đó, cái tiếng phải nằm trong cái tâm, không nằm ngoài tâm. Tiếng niệm Phật thì Tâm phải ở câu Phật hiệu, Tâm và tiếng là một, vậy thì vọng niệm từ chỗ nào mà dấy khởi! Tuy nhiên,ngay thời điểm vọng niệm dậy khởi và mặc dầu người tu tập ta đã thay đổi phương cách mà vẫn không chuyển hóa được vọng tâm, tốt nhất ta nên đối trước Tam Bảo Phật đài, thành tâm lễ lạy thiết tha sám hối các việc tội lỗi, mà do trước đây vì vô minh vọng tưởng dạy tà mà ta đã giết hại, hoặc làm khổ đau cho các chúng sanh khác! Nên nhớ, sau những lần lạy sám hối, nếu ta thật sự thành tâm và thệ nguyện lập nhiều công đức để hồi hướng cho các lỗi lầm trong quá khứ, vấn đề quan trọng là ta không thể tái phạm vào những oan khiên đó nữa, chúng ta có thể tin rằng mình đã nhẹ nhàng rủ sạch các nghiệp báo, để an tâm đi vào công phu tu hành. Sám hối không phải là đeo mang theo mình các lỗi lầm, mà sám hối là một phương cách giặt giũ, tẩy sạch các vết nhơ đã đeo bám vào tâm bản hữu của mình. Cứ nhớ như thế để người tu tập chúng ta đạt được sự thong dong, thư thả mà hành trì. Cái nguy hiểm là ta cứ đeo mang, cứ NẮM những cái mà đúng ra theo giáo pháp của Chư Phật và các vị Tổ dạy ta phải BUÔNG. Người mang tội ngủ nghịch mà nhất tâm niệm Phật còn có thể vãng sanh, được Đức Phật A Di Đà cùng Thánh chúng tiếp dẫn, còn tội nghiệp chúng ta thế nào mà không thể toàn tâm trì niệm Nam Mô A Di Đà Phật.
    Có rất nhiều phương cách để chế phục vọng tâm, nhưng hầu hết cũng đều quy vào việc làm sáng cái tâm, bắt buộc cái tâm phải dụng vào một phương thế nào đó để “quên” đi vọng niệm. Thí dụ như dùng xâu chuổi để ghi nhớ từng tiếng niệm Phật, như dùng máy niệm Phật để tâm nương vào đó mà không thể long bong chạy theo vọng niệm trên nguyên lý “Tâm vô nhị dụng”, nhưng trong thực tế thì đâu cũng vào đấy, vọng niệm vẫn cứ đan quyện vào câu Phật hiệu! Bởi vì xâu chuổi hột, tiếng máy niệm cũng giống như chất bổi bùi nhùi giúp cho ngọn lữa tâm bùng cháy lên trong một giai đoạn, để rồi sau đó việc ký số bằng hạt chuổi hoặc nghe bằng máy niệm sẽ trở thành thói quen, trở thành tập khí, chính lúc này là lúc con thiên lý mã vọng tâm lại bắt đầu cất vó…Vấn đề là chúng ta không nên để cho những phương cách đối trị trở thành tập khí mà chỉ nên áp dụng trong một giai đoạn khi vọng niệm đã thực sự giảm nhiều, chúng ta trở lại ý trì như trước nhưng nên niệm danh hiệu Phật chậm lại, tương tự như ta cần phải đánh vần từng con chữ một N…a…m…M…ô….A…D…i… Đ… à…P… h…ậ …t. Rồi ta sẽ trở lại niệm một cách bình thường sau khi niệm chậm và nhấn từng con chữ như vậy 10 phút. Đây là kinh nghiệm của nhiều vị đã tu tập pháp môn Tịnh độ trì danh hiệu Đức Phật A Di Đà đạt được nhất tâm bất loạn.
    Người hạ thủ chúng ta còn gặp phải hai chướng ngại khác là Phan duyên và vô ký. Phan duyên là khi ngồi niệm Phật mà tai lại lắng nghe âm thanh bên ngoài hoặc cảnh vật chung quanh do tâm ưa dong ruổi. Đây là nguyên nhân làm cho công phu niệm Phật bị gián đoạn nên không còn chánh niệm. Vô ký lại là một hình thái ngược lại với Phan duyên, khi niệm Phật thì tâm thức biến mất, người công phu đến một lúc nào đó lơ mơ không nhận biết gì cả, quên luôn câu Phật hiệu,như gỗ đá vô tri.
    Cả hai chướng ngại này, người hạ thủ chúng ta nếu không biết, lại cho là mình đã định được Tâm và ham thích theo chúng, đây là một nhận định sai lầm bởi vì ở phương pháp trì danh một khi Tâm đã được định thì sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật không lúc nào vắng bặt, cho dù người hạ thủ có niệm thành tiếng hay niệm bằng Ý. Tiếng vang Phật hiệu này không phải là nghe bằng nhỉ thức mà nghe bằng Tánh nghe nên không thể gián đoạn được.
    Với phan duyên thì khi ngồi niệm Phật có thấy hoặc nghe gì thi ta phải làm ngơ như người mù, người điếc, buông bỏ mọi cảnh trần, tập trung cả Tâm lẫn ý, miệng niệm tai nghe, ý ghi nhận rõ ràng rành rẽ từng chữ từng câu Phật hiệu.
    Đối với vô ký thì người hạ thủ cũng phải tập trung Tâm lẫn ý, niệm thầm danh hiệu Phật bằng ý trì, bắt ý thức phải làm việc không để cho chìm mất, phải kiểm soát để cho hiện tiền.
    Về ăn uống cũng gánh vác một vai tò quan trọng cho người tu tập. Buổi cơm chiều nếu ta ăn quá no cũng là một trở ngại lớn trong khi hạ thủ, người ăn no rất dễ bị hôn trầm vì phần lớn máu phải tập trung tại các bộ phận tiêu hóa, nên phần não cần phải được nghỉ ngơi. Tốt hơn hết buổi chiều người hạ thủ nên ăn nhẹ, hoặc dùng một chén canh rau thì khi tu tập dễ tập trung và tránh được hôn trầm.
    Người xưa từng bảo rằng: “Hữu cầu, tất ứng” nghĩa là hễ thành thật tâm cầu nguyện thì tất nhiên sẽ có cảm ứng. Nói như vậy cũng không có nghĩa là sự cầu nguyện nào cũng ứng nghiệm, muốn cho sự cầu nguyện được cảm ứng thì sự cầu nguyện đó phải hội đủ các yếu tố giúp cho lời cầu được linh thiêng. Muốn có cơm ăn thì cần phải có những thứ như gạo, nước, nồi, lửa và người biết nấu. Sự cầu nguyện cũng vậy, cầu nguyện không thể thiếu Tĩnh (định), sự hiểu biết (tuệ) và tình thương (từ bi). Thiếu một trong ba điều kiện này thì sự cầu nguyện không thể nào cảm ứng đạo giao được! Trước hết là việc cầu nguyện trong tuần thất cho người chết, nói đến vấn đề này thì ai cũng biết là hiện nay đang có những bất đồng trong cung cách nguyện vái, chính những bất đồng này đã phá vỡ đi sự hiệu quả của việc cầu nguyện và kéo theo sự thành kiến, phân hóa trong đoàn thể…
    Theo Sám Giảng thi văn giáo lý Phật Giáo Hòa Hảo, ở phần CÁCH CẦU NGUYỆN CHO NGƯỜI CHẾT:
    Mỗi người đứng trước bàn Phật niệm “Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” (ba lần) và “Nam Mô A Di Đà Phật” (ba lần)
    Vái: “Phật Tổ,Phật Thầy,nay mình thành tâm cầu nguyện cho tên...(tên người chết) nhờ ơn Đức Phật từ bi cứu độ vong linh được thoát chốn mê đồ, vãng sanh miền Cực Lạc” Trong lúc ở nhà hay trong lúc đưa đám tang gì cũng vậy, nếu có tổ chức sắp hàng chắp tay niệm “Nam Mô Tây Phương Cực Lạc thế giới tam thập lục vạn ức,nhứt thập nhứt vạn cửu thiên ngũ bá đồng danh đồng hiệu đại từ đại bi tiếp dẫn vong linh A Di Đà Phật”. Nếu người chết là nhà sư thì câu chót đọc: “Tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật”.
    NÊN LƯU Ý: Tang gia đừng nên khóc lóc làm trở ngại sự siêu thoát anh linh của người chết.
    Nếu ta biết học tập cho sâu sắc về cách cầu nguyện cho người chết này, người tu tập sẽ thấy được mấy vấn đề cần quan tâm như sau:
    Thứ nhất, mỗi người đứng trước bàn Phật. Chính vì chữ đứng nầy mà có người cho quỳ là sai, nên khi cầu cúng quỳ xuống chấp hương đưa lên trán là không đúng lời dạy của Thầy, rồi sanh tâm chê trách! Như đã nói, cầu nguyện có hiệu quả cần phải có ba điều kiện là Tĩnh định, Hiểu biết và Tình thương. Khi chấp nhặt vào chữ đứng, là chúng ta đã đánh mất đi sự tĩnh định. Một khi đã đánh mất sự tĩnh định thì hiệu quả của buổi cầu cúng sẽ ra sao? Tại sao chúng ta không chịu hiểu thoáng hơn một chút là nếu đồng quỳ xuống chấp hương đưa lên trán thành tâm cầu nguyện thì có sao đâu, không chừng thái độ quỳ xuống lại làm cho lời nguyện tha thiết hơn! Nếu chấp cứng vào văn tự thì có phải chúng ta lại làm cho vấn đề nhiêu khê thêm, người ta có thể lý luận là Thầy dạy đứng chứ Thầy không cấm quỳ, tùy theo sự cơ cảm mà đứng hoặc quỳ miễn có được cái Tâm thành mới là điều đáng quý…
    Thứ hai, là Vái rồi hai chấm mở dấu ngoặc kép,nếu căn cứ theo ngữ văn, cách dùng từ và cách sử dụng các dấu phẩy, dấu chấm câu, dấu ngoặc đơn, ngoặc kép v.v.. thì đây là lời dạy phải van vái như những gì được viết trong ngoặc kép. Lý thì như thế nhưng từ lâu rồi vẫn có một số đồng đạo quen đọc luôn chữ Vái Phật Tổ, Phật Thầy…điều nầy cũng không sao, miễn người cầu cúng đừng cãi lẫy đúng sai rồi phân nhơn ngã. Lại có người không đọc chữ Vái mà lại thêm hai chữ Nam Mô trước Phật Tổ, Phật Thầy, như ta đã biết chữ Nam Mô có nhiều nghĩa, gần nhất là qui mạng, là kính lễ. Vậy thì hai chữ Nam Mô đứng trước Phật Tổ, Phật Thầy là kính lễ Phật Tổ, Phật Thầy, điều này chỉ có thể tăng thêm phần đoan chính cho lời cầu nguyện chứ nào có hại gì? Chúng ta cứ sợ làm không đúng theo chữ nghĩa của Thầy mà quên đi cái cốt yếu của Giáo pháp là an được cái Tâm, nhất là khi cầu nguyện, để rồi chấp nhặt cái đúng, cái sai theo thiên kiến mà sanh phiền não chẳng ích lợi gì! Miễn sao có được Tâm thành mới là điều đáng quý.
    Lý giải như vậy, nếu đem ra phê phán sẽ là người ba phải, cái gì cũng được. Đành vậy thôi, bởi vấn đề tu tập của người hạ thủ là phải BUÔNG, có BUÔNG mới gạt bỏ được bản ngã, mà bản ngã chính là đầu mối của phiền não và phiền não chính là những bụi bặm che mờ đi sự trong sáng vốn có của Tâm. Ba phải hay bốn phải gì cũng được, vấn đề ấy không quan trọng, cái quan trọng là sự an lạc có được duy trì hay không !
    Những bất đồng vừa nêu có phải được hình thành do người điều hành buổi cầu cúng (M.C) hay không? Nên chăng ta nên xét lại vấn đề tế nhị này. Cổ đức nói rằng: Chín người thì mười ý, bởi thế cho nên việc tìm kiếm một sự đồng thuận đối với số đông người là một việc rất khó. Sự cầu nguyện cốt ở Tâm thành chứ không hề cốt ở chỗ “ăn rập”, ở chỗ đồng loạt, Đức Thầy dạy rằng:

    Tâm Bần Tăng chẳng mến sắc màu,
    Mến những kẻ biết vào đường chánh.

    Vậy thì giữa cái đồng loạt và cái định Tâm cái gì là đáng quý? Những người chủ sự trong gia đình, có thân nhân qua đời cần nhờ tới năng lượng của tín hữu mình để cầu nguyện cho họ vãng sanh, tốt hơn hết là không nên áp dụng hình thức cầu cúng tập thể, mà nên để cho mỗi người ai đến trước thì cầu cúng trước, ai đến sau thì cầu cúng sau và mỗi người tự van vái theo sở nguyện của riêng mình trước Đức Phật A Di Đà cho vong linh người quá vãng kia, thì hiệu quả của sự cầu nguyện chắc chắn sẽ được tốt hơn. Nên nhớ những người chịu đến cầu nguyện cho người thân của mình, chắc không ai là không thuộc lời cầu nguyện cho người chết mà Đức Thầy đã chỉ dạy.Vả lại, trong việc cầu nguyện thì văn nguyện chưa phải là yếu tố then chốt để làm cho lời cầu nguyện tăng thêm hiệu quả. Có hiệu quả hay không lại chính là lòng thành.
    Trước khi nhập Niết Bàn Đức Bổn Sư Thích Ca còn chấp nhận cho ông Tu Bạt Đà La (Subhadda) vào tăng đoàn của Ngài chỉ vì trong nhiều tiền kiếp có một lần ông Tu Bạt Đà La bị cọp rượt phải trèo lên một cây to, nhưng nào ngờ cọp lại không tha cắn vào gốc cây làm cho cây ngã, trước khi làm mồi cho cọp ông Tu Bạt Đà La chỉ kịp nhớ đến Phật và thốt lên Mô Phật. Vậy là Ông đã có duyên với Phật, nên vào thời Phật Thích Ca ông trở thành người đệ tử quy y sau cùng của Đức Phật và đắc quả vị A La Hán sau một thời gian tu tập…
    Những vấn đề trải nghiệm trong đời sống tu tập tâm linh được vẽ lại ở đây, không nhằm vào mục đích phê phán hoặc giả chỉ trích ai, người tu hành không muốn chen vào chốn thị phi phải trái, chỉ mong chư đồng đạo của mình nên buông bỏ những phiền não mà trong một vài phạm vi có thể buông bỏ được.
    Hãy buông bỏ những gì cần phải buông bỏ.
    Hãy nắm điều cần phải nắm, để sáng được cái Tâm. Để thực hiện được trọn vẹn giáo pháp của Đức Thầy tôn kính.
    Chúng ta phải cố gắng lên và hạ thủ công phu tu tập đi!

    Thảo trang, 28 tháng 8 năm Nhâm Thìn 2013.
    DỰ CHƯƠNG
     

Chia sẻ trang này